Qua tiết Lạp Bát chính là năm mới, lão gia cùng đoàn tù phạm lưu đày rốt cuộc đã đến Ninh Cổ Tháp.
Dượng kiểm tra tu sửa chiếc xe ngựa chúng ta điều khiển về, dẫn chúng ta đi thăm lão gia, nhân tiện đưa đậu hũ cho khách hàng trong thành và m/ua sắm đồ tết.
Gặp lão gia lúc ấy, tinh thần ngài còn khá tốt, số bạc mang theo đã phát huy tác dụng, th!t khô và áo bông cũng c/ứu nguy, dù g/ầy đi nhiều nhưng vẫn đến nơi an toàn. May mắn không phải làm nô tì cho binh lính mặc giáp, với tư cách quan phạm, lão gia được phân về dịch trạm lo công văn giấy tờ, ngày mồng một và rằm đến nha môn báo cáo cảm ngộ hối cải cùng lòng cảm tạ triều đình.
Dọc đường nhiều tù nhân ch*t, một số nữ quyến càng thê thảm hơn, nghe đến đây, thiếu gia nắm ch/ặt tay, ánh mắt phức tạp liếc nhìn ta. Phu nhân ôm tiểu thư, nắm tay ta khóc thút thít.
Để phu nhân cùng tiểu thư ở lại trò chuyện với lão gia, ta cùng thiếu gia theo dượng đi m/ua đồ tết. Chàng thẫn thờ theo sau, hai tay vẫn nắm ch/ặt, mũ rủ trên vai, áo choàng không cài khuy, chưa đi được mấy bước mũi và mặt đã đỏ lên. Ta dừng bước quay lại đội mũ cho chàng, cài khuy áo. Tách tay chàng định đút vào găng tay.
Chàng cũng dừng lại nhìn ta, siết ch/ặt tay ta, mắt đỏ hoe nói: "Tiểu Vũ, đa tạ ngươi."
Chưa đầy một năm, sao chàng đã cao hơn ta nhiều thế. Nhìn đôi mắt trong veo của chàng, ta thầm thở dài, không rút tay ra, dắt chàng bước vào thế giới phủ đầy băng tuyết.
Chúng ta để lại cho lão gia mười lạng bạc, quần áo mới cùng giày lông, bánh đậu dẻo bà nội dậy sớm hấp và giò đỏ nhà tự làm, dặn ngài giữ gìn sức khỏe. Trời lạnh, tuyết đọng khó tan, mọi người đều tránh rét, phải đợi sang xuân mới thăm lại được. Về đến nhà, phu nhân dắt thiếu gia cùng tiểu thư, lại tạ ơn ông bà nội thật nhiều. Đêm hôm ấy, ai nấy đều chất chứa tâm sự khó ngủ.
Sáng ba mươi tết, mọi người đều dậy sớm, chỉ trừ thiếu gia.
Đợi đến khi chúng ta quét dọn nhà cửa, dán hoa giấy xong, thiếu gia mới chui ra từ chiếc đại xướng lông trắng, tựa như hồ ly mặt ngọc. Dượng tìm thợ nề xây lò mới, chiếc áo choàng lại khoác lên người chàng, ngoài lúc ngủ ăn hầu như không rời.
Phu nhân sai Trương mỗ lấy giấy đỏ m/ua từ thành phố cùng bút mực, trải lên bàn chính đường bắt đầu viết câu đối.
Viết xong hai đôi phòng ngủ, để lại bếp và chuồng gà nhỏ hơn cho tiểu thư thỏa sức. Phu nhân biết Kỵ Nguyệt tỷ tỷ từng dạy ta viết chữ, khích lệ ta thử sức. Ta cũng viết đôi câu đối nhỏ cho chuồng heo: "Kim trư vạn lượng xuân phong tiếu/ Trường thị thiên chi cẩu nhật nhàn".
Ông nội đang phụ bà nội trong bếp lén ra xem, hớn hở ngắm nét chữ ta còn thua tiểu thư: "Bà ơi, ra đây mau, Tiểu Vũ nhà ta biết viết chữ rồi!"
Nhà ta xưa nay chưa từng dán câu đối tết - vật phẩm mới lạ này. Một là giấy đỏ bút mực đắt giá, hai là thôn quê hẻo lánh hầu như không có người biết chữ, ngay cả ở trấn cũng hiếm hoi. Nhà nhà đón tết bằng cách dựng tùng luân can trước sân, dán hoa giấy đã là gia đình khá giả.
Ông nội thận trọng hỏi: "Thế trước cổng sân có cần dán một đôi không?"
Phu nhân cười đáp: "Dĩ nhiên rồi, nhưng câu đối cổng viết chữ to, để Minh ca viết vậy."
Ta hơi nghi hoặc nhìn thiếu gia, phu nhân nói: "Minh ca thơ văn kinh sách không thành thục, nhưng chữ do cậu ruột trực tiếp chỉ dạy, lại chăm chỉ khổ luyện nhiều năm, nét chữ quả thực đẹp đẽ."
Kỵ Nguyệt tỷ tỷ từng kể, nhà ngoại phu nhân ở Giang Nam đạo - nơi văn phong hưng thịnh, cũng thuộc hàng thanh lưu nhất nhì. Người hầu trong nhà ít nhất cũng biết đọc biết viết. Anh trai phu nhân giảng dạy ở Đồng Giang thư viện danh tiếng, là bậc đại nho được kính trọng.