Lục Trì Xuyên có công nhận tôi hay không lại là chuyện khác.
Thế nhưng ngày hôm đó, tôi chẳng dám nghĩ đến điều đó.
Công ty dần dần đi vào quỹ đạo.
Những gì tôi làm là sự tiếp nối cái nghề của bố tôi — nhưng hoàn toàn bắt đầu lại từ vạch xuất phát, bằng chính đồng tiền của mình, các mối qu/an h/ệ của mình, và phán đoán của chính mình. Năm đầu tiên không có lợi nhuận, năm thứ hai hòa vốn, năm thứ ba bắt đầu dư dả chút ít.
Trong ba năm ấy, Lục Trì Xuyên vẫn luôn ở đó.
Anh không còn đến thường xuyên như thời gian đầu nữa. Có khi nửa tháng mới ghé một lần, có khi cả tháng. Đến cũng chẳng bàn chuyện chính sự gì, uống một ly cà phê, ngồi một lát rồi lại đi.
Thế nhưng lần nào anh đến, tôi cũng nghe thấy tiếng.
Nghe thấy tiếng chìa khóa. Nghe thấy tiếng anh cởi áo khoác vắt lên lưng ghế sô-pha. Nghe thấy cái nhịp điệu pha cà phê xay hạt của anh — vẫn vụn vặt và đều đặn như thế, tựa như một trận mưa phùn.
Cơ thể tôi phản ứng trước cả đại n/ão mỗi khi anh đến. Khoảnh khắc anh bước chân vào cửa, phần da gáy của tôi lại nổi lên những hạt da gà li ti, nổi xong xuôi rồi tôi mới kịp phản ứng lại.
Nổi nhiều thành quen, cuối cùng tôi cũng hậu tri hậu giác thừa nhận chuyện này.
——Thì ra là thế.
Thừa nhận rồi, nhưng tôi không nói ra.
Tôi không nói mà anh cũng chẳng ngỏ lời. Khoảng không yên lặng giữa chúng tôi lúc này không còn là sự tĩnh lặng trống rỗng nữa, mà là sự tĩnh lặng ngập tràn. Tràn ngập đấy, nhưng chẳng ai dám chạm vào cái sự “tràn ngập” ấy.
Giống như một chiếc ly được rót đầy đến chín phần, mặt nước căng phồng, căng phồng một lớp sức căng bề mặt mỏng manh, chẳng ai dám chọc thủng lớp màng ấy.
Có hôm anh ở trong phòng bếp, còn tôi ở phòng sách.
Tôi bước ra ngoài rót nước, bắt gặp anh đang đứng bên bồn rửa tay. Tay áo xắn lên tận củ chỏ, để lộ phần xươ/ng cổ tay sắc nét, làn da mỏng manh, tĩnh mạch ẩn hiện mờ ảo.
Tôi đứng ở cửa bếp, ngẩn ngơ nhìn một lát.
Anh không ngoảnh đầu lại, cất lời: “Nhìn đủ chưa.”
Tôi không đáp, bước tới, lấy chiếc cốc từ cạnh anh ra rồi hứng nước.
Lúc hứng nước, khuỷu tay tôi vô tình cọ phải cặn tay anh.
Một cái cọ rất khẽ.
Cọ xong cả hai chúng tôi đều khựng lại một nhịp.
Tôi không rụt tay về, anh cũng chẳng dịch đi.
Dòng nước chảy róc rá/ch một lúc, tôi khóa vòi lại, nâng cốc quay người bước đi.
Đến cửa, tôi dừng chân, không ngoảnh đầu lại.
“Lục Trì Xuyên.”
“Ừ.”
“Em mời anh bữa cơm nhé.”
Tôi cất lời. Giọng khàn đi một nhịp, đợi qua cơn khàn ấy tôi mới nói tiếp.
“Công ty đã hòa vốn rồi.”
Phía bên kia im lặng mất một lúc.
Rồi tôi nghe thấy tiếng anh khẽ cười. Vẫn là cái tiếng cười rất khẽ, phát ra từ khoang mũi ấy.
“Được.”
Anh đáp.
Chữ “được” ấy vô cùng bình thường, bình thường đến mức chẳng có chút sức nặng nào. Thế nhưng tôi đứng cầm ly nước ở cửa bếp, cầm suốt một hồi lâu, đến mức cổ tay mỏi nhừ, mới nỡ cất bước đi về phía phòng sách.
Về đến phòng sách, tôi khép cửa lại, áp lưng vào cánh cửa.
Tim đ/ập thình thịch khiến tôi có chút khó thở.
——Anh ấy đã đồng ý đi ăn cơm cùng tôi rồi.
Ý nghĩ đó vừa lóe lên, đến bản thân tôi cũng phải sững người.
Sững sờ vì: từ bao giờ mà tôi lại bắt đầu để tâm đến chuyện này thế cơ chứ.
Tôi không thể trả lời nổi chính mình.
Tôi chỉ biết rằng, cái khoảng trống hoác trong lồng n.g.ự.c ấy, suốt ba năm qua đã được lấp đầy thêm một chút, lại thêm một chút, để rồi đến khoảnh khắc này, nó đã tràn trề rồi.
Cảm giác tràn trề ấy, nóng hổi vô cùng.
Nóng đến mức lòng bàn tay tôi lại bắt đầu rịn mồ hôi ẩm ướt.
Chín
Bữa cơm hôm đó là chuyện của những ngày sau này.
Điều tôi muốn kể bây giờ, là chuyện của một thời gian xa hơn nữa.
Hôm đó tôi ở văn phòng của Trì Ngạn, tăng ca đến tận khuya muộn.
Ngoài cửa sổ trời đang đổ mưa, mưa không lớn, kiểu mưa không cần ô cũng được, nhưng đi lâu một chút là cổ áo sẽ bị thấm ướt.
Tôi đăm đăm nhìn làn mưa ấy một lúc, mới sực tỉnh lại.
Chậu trầu bà đặt trên bàn làm việc, chính là chậu cây được chuyển từ căn phòng trọ cũ sang đây.
Ba năm rồi, dây leo đã bò kín một nửa bức tường, lá mới lá cũ chồng chéo lên nhau, sắc xanh đậm đặc. Việc đầu tiên tôi làm mỗi sáng khi đến công ty chính là ngắm nhìn nó một cái, ngắm xong xuôi rồi mới bật máy tính lên.
Hôm đó tôi cũng tưới nước cho nó theo lệ thường.
Nước vừa tưới xuống, mặt đất sủi lên một lớp bọt nhỏ li ti, bọt vỡ tan, nước từ từ thấm xuống dưới, thấm tới tận đáy chậu, rồi rỉ qua lỗ thoát nước, làm ướt sũng một góc tờ báo Iót bên dưới đĩa đệm.
Tôi đăm đăm nhìn góc báo bị thấm ướt ấy, ngẩn ngơ mất một lúc.
Tờ báo ấy đã cũ, ngả màu ố vàng, những con chữ bên trên đã mờ nhòe. Đó là tờ báo của ngày tôi chuyển đến đây ba năm về trước. Tôi chưa từng thay mới. Không phải là không nhìn thấy, mà là lười thay — có lẽ là lười thay thật.
Hôm đó tôi cứ trân trân nhìn nó, bỗng dưng nhớ đến một câu nói.
——”Trầu bà tưới đẫm nước là có thể sống.”
Đó là câu nói của anh vào ngày đầu tiên bước chân vào căn phòng trọ của tôi, trước khi rời đi.
Lúc ấy tôi chỉ nghĩ là anh đang nhắc đến cây trầu bà.
Thế nhưng vào khoảnh khắc đó, khi đang tưới nước, đăm đăm nhìn góc báo bị ướt sũng ấy, câu nói trong đầu tôi bỗng không còn là đang nói về cây trầu bà nữa.