03
Ta bắt đầu trò chuyện với một con cáo là từ ngày thứ năm.
Tiệm rư/ợu chỉ có một mình ta. Ban ngày bận rộn ủ rư/ợu, canh men, hấp lương thực, b/án rư/ợu; ban đêm lại một mình thủ vững một khoảng sân đầy vò rư/ợu, yên tĩnh đến mức có thể nghe thấy tiếng tim đ/ập của chính mình.
Sau khi cha đi rồi, ta chẳng mấy khi nói chuyện với ai. Lúc b/án rư/ợu thì nói vài câu: "Hai lượng cho hũ Hoa Đào Lương, được rồi, quý khách đi thong thả."
Quanh đi quẩn lại cũng chỉ có mấy câu này, không tính là giao lưu.
Có Đoàn Tử rồi thì khác hẳn.
Ta sẽ ngồi xổm trong hầm rư/ợu, mở nắp một vò rư/ợu Hoa Đào cất từ mùa xuân, múc một muỗng ra ngửi thử, rồi quay đầu hỏi nó: "Mày ngửi xem, vò Hoa Đào Lương này có phải hương hoa đã nhạt đi chút rồi không? Cất hơn nửa năm, mùi vị bị tản mát mất một ít."
Nó nghiêng nghiêng đầu.
"Mày bảo phải thì là phải vậy." Ta thở dài, "Dù sao cũng chẳng có ai khác nghe tao nói chuyện cả."
Nó liền ghé cái đầu lại gần, cọ cọ vào cổ tay ta.
Lông xù mềm mại, ấm áp lạ kỳ.
Mùa đông năm nay dường như không còn lạnh đến thế nữa.
Đoàn Tử có vài thói quen rất kỳ lạ.
Ví dụ như, nó chưa từng ăn th!t sống. Ban đầu ta chuẩn bị cho nó ít th!t gà sống, nó liếc nhìn một cái rồi quay đầu bỏ đi, vẻ mặt chê bai không chịu nổi.
Sau đó ta thử luộc chín th!t rồi đưa cho nó.
Nó ăn.
Ăn còn vô cùng nhã nhặn, từng miếng từng miếng nhỏ một, ăn xong còn lấy móng vuốt lau lau miệng.
Ta ngồi xổm bên cạnh nhìn, thầm nghĩ, đây có lẽ là con cáo kiểu cách nhất mà ta từng thấy.
Lại còn, nó rất thích xem ta ủ rư/ợu, hơn nữa còn xem vô cùng nghiêm túc. Lúc ta hấp lương thực thì nó ngồi xổm bên cạnh xem, lúc ta trộn men thì nó ghé lại gần ngửi, lúc ta niêm phong vò rư/ợu thì nó lượn quanh vò rư/ợu một vòng, rồi tìm một chỗ nằm xuống, đặt cằm lên hai chân trước, mắt chớp cũng không chớp.
Có một lần ta trêu nó: "Nhìn cái gì mà nhìn, muốn học à? Nào, vác vò gạo này qua đây trước đã."
Nó vậy mà đứng dậy thật, cố gắng dùng đầu để húc vò gạo kia.
Húc không nổi.
Vò rư/ợu bất động như bàn thạch, bản thân nó thì lùi lại hai bước, ngã ngồi bệt xuống đất.
Ta cười bò cả buổi, ngồi xổm xuống vò đầu nó: "Được rồi được rồi, đừng có cậy mạnh nữa."
Nó hừ hừ hai tiếng, vung đuôi quất ta một cái.
Những ngày lạnh nhất, ban đêm nó sẽ nhảy lên giường ta.
Ta biết là không nên để nó lên giường. Thím Vương nói rồi, lũ thú vật trên người có bọ chét.
Thế nhưng nó cứ rúc thành một cục dán ch/ặt vào bên chân ta, ấm sưởi sưởi, giống như một chiếc lò sưởi nhỏ.
Ấm áp quá. Ta thực sự không nỡ đuổi nó đi.
Có một đêm gió đặc biệt lớn, giấy dán cửa sổ bị thổi rá/ch một lỗ, gió lạnh lùa vào. Ta co rúc trong chăn lạnh đến mức run lẩy bẩy, nó liền từ từ bò từ phía chân lên, từng chút một rúc vào lòng ta.
Ta ôm lấy nó, cảm giác như trong lồng ng/ực đang ôm một cục lửa.
Nó lấy mũi hếch hếch vào cằm ta, rồi lặng lẽ nằm im không động đậy nữa.
Ta nói với nó: "Đoàn Tử, mày đừng đi nhé."
Nó dĩ nhiên không trả lời.
Nhưng nó đã dụi dụi vào trước ng/ực ta.
Ta liền coi như nó đã đồng ý.
Lúc lập xuân, Đoàn Tử chạy mất.
Không có bất kỳ điềm báo nào.
Đêm hôm trước vẫn còn nằm bên gối ta. Ta nhớ rất rõ, vì trước khi ngủ tôi còn nói với nó một câu: "Ngày mai đi gánh nước, mày ở nhà trông cửa nhé." Nó ngáp một cái, đuôi quẹt qua một chút, trông có vẻ rất lấy lệ.
Sáng ngày thứ hai ta tỉnh dậy, bên gối đã trống không.
Bên bếp lò trống không.
Ngoài sân trống không.
Cửa sau đang mở, trên bậu cửa còn sót lại một chùm lông trắng nhỏ. Trên nền đất bùn ngoài cửa có một chuỗi dấu chân móng vuốt nho nhỏ, kéo dài đến cuối con ngõ, rồi biến mất.
Ta bưng bát ăn của nó đứng ở cửa sau, đứng rất lâu.
Gió xuân đã mang theo hơi ấm, thổi vào mặt không lạnh, nhưng ta lại cảm thấy lạnh thấu xươ/ng.
Thím Vương đi ngang qua nhìn thấy tôi, hỏi có chuyện gì, ta bảo Đoàn Tử chạy mất rồi.
Bà nói: "Thú vật mà, nuôi không thân được đâu."
Ta đáp: "Vâng."
Nói rồi, ta đem chiếc bát kia rửa sạch sẽ, cất vào tận góc sâu nhất trong tủ.