Ngày niêm phong vò rư/ợu, y giúp ta trộn nốt muỗng men cuối cùng vào, rồi giúp ta đắp bùn niêm phong miệng vò.
ta nhìn động tác thuần thục của y khi miết phẳng mép bùn, không nhịn được mà hỏi: "Rốt cuộc là ngươi học ủ rư/ợu từ khi nào thế?"
Y cười một cái: "Ngươi quên rồi sao? Ta nằm bên cạnh ngươi quan sát suốt cả một mùa đông."
"Ngươi chỉ là một con hồ ly!"
"Hồ ly cũng có mắt." Y phủi bùn trên tay, "Mỗi bước ngươi làm ta đều ghi nhớ cả. Khi nào cho men, cho bao nhiêu, bùn niêm phong dày bao nhiêu, đặt ở vị trí nào trong hầm rư/ợu thì nhiệt độ ổn định nhất, ta đều nhớ kỹ."
Y quay đầu nhìn ta, giọng điệu đột nhiên nhẹ bẫng: "Khi đó ta chỉ nghĩ, giá mà có ngày ta có thể giúp ngươi một tay thì tốt biết mấy."
ta im lặng một hồi, đặt muôi múc rư/ợu xuống, lấy mu bàn tay quẹt mũi.
"Giờ ngươi đã giúp được rồi."
"Ừ." Y ôm vò quế hoa nhưỡng ấy lên, đặt vững vàng vào trong hầm rư/ợu, "Vò này là chúng ta cùng nhau ủ, phải để riêng, không được b/án."
ta cố tình hỏi: "Không b/án thì để làm gì?"
"Để dành cho chúng ta tự uống."
Có một đêm ta hỏi y:
"Ba năm đó rốt cuộc ngươi đã trải qua thế nào?"
Y nằm cạnh ta, gối đầu bằng tay, nhìn ánh trăng lọt qua khe cửa.
"Trong núi." Y nói, "Tìm một lão hồ ly dạy ta hóa hình. Lão già đó tính khí hôi hám vô cùng, hơi tí là m/ắng ta ng/u ngốc. Ta đúng là ng/u thật, thứ mà hồ ly khác chỉ mất một năm để học, ta phải học tận ba năm."
"Vì sao?"
"Vì ta từng bị thương." Y nói rất bình thản, "Đuôi đ/ứt mất nửa đoạn, căn cơ không vững, hóa hình khó hơn người khác. Lão già đó bảo đời này ta có lẽ không hóa được thành hình người đâu, bảo ta đừng phí thời gian nữa."
ta xoay người nhìn y.
Y vẫn đang nhìn ánh trăng.
"Vậy tại sao ngươi không bỏ cuộc?"
Y quay đầu nhìn ta, đôi mắt màu hổ phách trong bóng tối vẫn sáng rực.
"Ta từng nói với ngươi rồi." Y vươn tay, đầu ngón tay chạm vào mặt ta, "Lúc làm hồ ly ngươi trò chuyện với ta, ta chẳng thể đáp lại. Ngươi bảo ta đừng đi, ta lại chẳng thốt nên lời."
Ngón tay y lướt dọc theo gương mặt ta, dừng lại ở cằm, khẽ bóp nhẹ.
"Ta muốn được nói chuyện—muốn đáp lời ngươi, muốn nói cho ngươi biết rư/ợu ủ ngon hay không, muốn được gọi tên ngươi."
"..."
"Ba năm." Y khẽ nói, "Đáng giá."
Vương thẩm là người đầu tiên nghi ngờ.
Ban đầu bà chỉ thấy Bạch Tông lai lịch bất minh, về sau dần dần cảm thấy có điều không ổn--
"Sao nó chẳng bao giờ ra khỏi ngõ thế?"
"Nó không thích ra ngoài."
"Người nhà nó đâu?"
"Không có người nhà."
"Ngươi cứ thế thu nhận một kẻ lai lịch không rõ ràng sao?"
"Vương thẩm, y làm việc nhanh nhẹn, ta đỡ phải lo nghĩ."
Vương thẩm không tin, nhưng chẳng bắt bẻ được gì, chỉ đành vài ba hôm lại tới "thị sát". Bạch Tông lần nào cũng thể hiện rất tốt, thấy bà là cười, miệng lưỡi dẻo quẹo, "Thẩm hôm nay sắc mặt tốt quá", "Vải hoa văn này của thẩm đẹp thật", dỗ cho Vương thẩm cười tươi như hoa.
Nhưng sau khi Vương thẩm đi rồi, ta thấy Bạch Tông xoa xoa mũi, nói nhỏ: "Mùi hạt tiêu trên người bà ấy nồng quá."
"Thế mà ngươi còn ghé sát vào làm gì?"
"Phép lịch sự."
Một con hồ ly lại bàn chuyện phép lịch sự với ta.