Tiếng trống đình khai tiễu
Sương mai tháng Bảy quánh lại như mỡ gà nguội, đọng thành từng hạt nước đùng đục trên tàu lá chuối và ngọn tre quanh làng Đông Cổ.
Gió sớm từ mặt sông Lương thốc ngược lên triền đê, mang theo hơi tanh nồng của đất bồi sau trận lũ. Khác hẳn mọi ngày, con đường gạch đỏ dẫn về trung tâm làng từ canh năm đã sáng rực ánh đuốc nứa. Tiếng mõ gõ lốc cốc từng nhịp ba ngắn một dài điểm canh tiễu, tiếng chó sủa râm ran khắp các ngõ sâu, quyện lấy mùi khói trầm hương ngào ngạt bốc lên từ chái đình gỗ lim rêu phong. Hôm nay là ngày hội rước sắc phong đầu thu, ngày mà cổng tam quan đình làng mở toang cả ba lối, chào đón chức sắc, kỳ mục áo thụng xanh the gấm đỏ về ngồi chiếu trên.
Thế nhưng, giữa đám cờ ngũ sắc phấp phới bay trong gió sớm, hai bóng người lầm lũi xuất hiện đầu dốc đê.
Đỗ Lương đi trước, hai vai căng ra dưới sức nặng của chiếc cáng tre ghép vội từ mấy thân nứa ngâm ngoài bến. Phía sau, Thục bước thấp bước cao, đôi chân trần bấm sâu vào bùn đất, hai bàn tay mảnh dẻo ghì ch/ặt đò/n khiêng. Nằm gọn trên cáng là một hình hài dài ngoằng, phủ kín bằng manh chiếu cói cạp viền rá/ch tả tơi đã bết đặc bùn đen. Nước bùn từ mép chiếu rỏ tong tỏng xuống mặt gạch Bát Tràng, để lại một vệt sẫm màu ngoằn ngoèo kéo dài từ bến sông vào tận cổng làng.
Một vài người dân xách rổ xôi, đĩa phẩm đi sớm thấy cảnh ấy liền dạt vội sang hai bên lề đường.
— Kìa... thằng Lương vớt x/ác! — Tiếng thì thầm kinh ngạc nổi lên từ bụi râm bụt. — Ngày tế thần, ai cho giống hạ tiện tha đồ nhơ nhuốc vào làng?
— Nó định mang cái của n/ợ ấy đi đâu thế kia?
Lương không ngẩng mặt lên. Đôi mắt chàng dán ch/ặt vào những phiến gạch nung sứt mẻ dưới chân. Cơn đ/au âm ỉ ở sườn phải do cú ngã va vào rạn đ/á ngầm vẫn râm ran nhức nhối theo từng bước chân gập ghềnh, nhưng hàm răng chàng cắn ch/ặt lấy môi dưới, bật cả vị mằn mặn của m/áu. Bên cạnh chàng, Thục vẫn lầm lũi bước, đôi mắt trong veo không chớp, một tay ghì đò/n tre, tay kia ép ch/ặt bọc vải bọc chiếc hộp da trâu trước ngựk như gìn giữ mạng sống của chính mình.
Cổng đình làng Đông Cổ sừng sững hiện ra dưới tán cây đa cổ thụ rủ từng chùm rễ mốc thếch.
Trước sân đình lát gạch đỏ au, ba chục thanh niên trai tráng mặc áo nẹp đỏ thắt lưng xanh đang dựng cờ kiệu. Trên bậc thềm đ/á xanh của tiền tế, đám chức sắc, lý dịch đã tề tựu đông đủ. Nổi bật giữa đám đông là Trịnh Bá Hộ. Lão khoác áo thụng màu xanh lam thêu hoa cúc chỉ bạc, chòm râu xén tỉa phẳng phiu rủ xuống ngựk, cổ tay trái lủng lẳng một chuỗi tràng hạt bồ đề mới toanh màu nâu sẫm. Lão đang khom lưng hướng dẫn tuần đinh khiêng đỉnh đồng lớn đặt trước ban thờ Thành hoàng, nét mặt hân hoan rạng rỡ của kẻ nắm quyền sinh sát trong làng.
Đúng lúc đó, tiếng đò/n cáng tre kẽo kẹt va chạm với tiếng bước chân ướt sũng dẫm lên gạch bậc tam cấp vang lên.
Đỗ Lương cùng Thục hạ cáng xuống ngay chính giữa sân đình, chặn đứng lối dẫn lên tiền tế.
Đám trai làng cầm cờ kiệu gi/ật mình dạt ra. Tiếng cười nói huyên náo bỗng chốc tắt ngấm. Mùi bùn sình th/ối r/ữa và hơi lạnh ngắt từ manh chiếu cói ẩm ướt lập tức bốc lên, xộc thẳng vào khứu giác mọi người, lấn át cả mùi hương trầm thơm ngát đang nghi ngút trên các lư đồng.
Lương không dừng lại ở đó. Chàng buông đò/n cáng, sải bước dài tiến thẳng lên bậc thềm đ/á.
Bên góc tả tiền tế, quả trống sấm đình làng căng bằng da trâu mộng đỏ ối treo lơ lửng trên giá gỗ mun. Cạnh giá trống, chiếc chày lim to bản cắm ngược trong hốc cọc. Đỗ Lương vung tay nắm lấy cán chày lim, rút mạnh ra khỏi chốt.
— Thằng Lương đò! Mày làm cái trò gì đấy? — Tiếng thét the thé của lý trưởng vang lên x/é toạc bầu không khí đặc quánh.
"Tùng!"
Một tiếng n/ổ trầm đục dội thẳng vào vòm mái đình, chấn động cả những xà lim xà cò cổ kính. Bụi bồ hóng từ rui mè rơi lả tả xuống mặt chiếu hoa.
"Tùng! Tùng! Tùng!"
Từng hồi trống gióng giả dồn dập vang lên. Tiếng trống sấm của đình làng chỉ được gõ vào ba dịp: giặc giã tràn về, đê vỡ nửa đêm, hoặc có án mạng kinh thiên động địa. Tiếng da trâu rung bần bật, âm thanh dội qua ngọn đa, quét qua mái rạ ngõ xóm, dội ngược ra tận bến đò sông Lương.
Trong chốc lát, tiếng la ó từ khắp các ngả đường làng dồn về. Người già quàng vội áo cánh, đàn bà bế con nhỏ, trai tráng cầm đò/n càn, cuốc xẻng đổ dồn về phía cổng đình như nước vỡ bờ. Hàng trăm con người chen chúc, vây kín lấy bốn bề sân đình, tiếng xì xào bàn tán nổi lên như ong vỡ tổ.
— Bớ làng nước! Có kẻ phá rối ngày đại tế! — Tiếng Trịnh Bá Hộ gầm lên từ trên hiên đình.
Lão bước gi/ật lùi hai bước, bàn tay lần chuỗi tràng hạt bồ đề run lên bần bật. Cặp mắt sắc lẻm của lão nhìn trừng trừng vào chiếc cáng tre phủ chiếu cói dưới sân, khóe môi lão gi/ật gi/ật.
— Tuần đinh đâu! — Bá hộ vung tay chỉ trỏ, giọng khản đặc vì phẫn nộ. — Lôi cổ thằng ngỗ nghịch này xuống! Lôi cái thứ ô uế kia vứt ra bãi cát bến đò ngay lập tức! Ai cho phép loài hạ tiện mang x/ác ch*t trôi trêu ngươi nơi cửa đình cửa thánh?
Bốn tên tuần đinh lực lưỡng cầm gậy gộc lập tức vung roj lao về phía Lương.
Lương không lùi một bước. Chàng ném mạnh chiếc chày lim cắm phầm xuống nền gạch sân đình, tay phải rút phắt nửa đoạn sào lim g/ãy từ sau lưng ra chắn ngang trước mặt. Thân sào gỗ đen nhánh loang lổ những vết ch/ém sâu hoắm cùng những vạch khắc đếm mạng rờn rợn dưới ánh mặt trời rạng đông.
— Đứa nào dám bước qua vạch sào này? — Lương gằn từng tiếng, âm vang đanh thép như đ/á tảng va nhau giữa dòng nước xiết. — Hôm nay đình làng mở tiễu tế cáo thần linh, dân làng đủ mặt kỳ mục chức sắc, ta mang án mạng hai mươi năm bị dìm dưới đáy bùn về đây để hỏi tội họ Trịnh!
Đám tuần đinh khựng lại. Ánh mắt rực lửa và nửa khúc sào lim tẩm m/áu trong tay Lương tỏa ra một khí thế lạnh lẽo khiến mấy gã trai làng rợn tóc gáy, không ai dám xông lên trước.
Lương bước xuống sân đình, đi đến bên chiếc cáng tre.
Trước mắt hàng trăm cặp mắt đang trố ra nhìn, chàng đưa tay nắm lấy mép chiếc chiếu cói cạp rá/ch, hất tung sang một bên.
Một làn hơi buốt giá phả ra.
Trên cáng tre lộ rõ th* th/ể thiếu phụ hai mươi năm dìm đáy nước. Làn da nàng trắng bệch, mái tóc đen dài rũ rượi quấn quanh bờ vai g/ầy, nhưng khuôn mặt thanh tú vẫn vẹn nguyên như chỉ vừa chìm vào giấc ngủ đêm qua. Nơi cổ chân nàng, khối đ/á tảng khắc chìm chữ bùa chú ngoằn ngoèo xám ngoét vẫn bị ghì ch/ặt bởi những vòng xích sắt đúc thủ công to bản han gỉ, cắn sâu vào tận xươ/ng trắng.
Tiếng hít hà kinh hãi đồng loạt bật ra từ miệng dân làng. Nhiều bà lão vội chắp tay lầm rầm niệm Phật, lùi lũi nép sau lưng người khác.
— Trời cao đất dày ơi... người ch** bị xích chân dìm sông!
— Nhìn kìa, vết xích cắn nát cả ống chân... Khốn nạn cho thân đàn bà con gái!
Trịnh Bá Hộ đứng trên bậc thềm đ/á, hai chân dường như ch/ôn ch/ặt xuống nền gạch. Lão nhìn chằm chằm vào khuôn mặt người ch** dưới cáng, ngựk phập phồng gấp gáp như người hụt hơi.
— Tà... tà m/a yêu quái! — Trịnh Cả gắng gượng cất giọng quát tháo, ngón tay r/un r/ẩy chỉ vào Đỗ Lương. — Mày... mày vớt cái x/ác ch*t trôi không rõ lai lịch từ đâu về đây để vu vạ? Người ch** đuối trôi sông năm nào chẳng có! Mày to gan đem x/ác m/a q/uỷ vào làm kinh động Thành hoàng, tội này đủ ch/ém đầu bêu cột!
Lương ngẩng đầu lên nhìn thẳng vào mắt Trịnh Cả. Chàng không lớn tiếng tranh cãi, mà từ từ cởi ruột tượng bên hông.
"Keng!"
Một tiếng vang khô khốc chói tai vang lên giữa sân đình.
Đỗ Lương ném tấm thẻ bài bằng bạc xuống giữa chiếc chiếu hoa cạp điều trải sẵn trước án tiền tế. Mặt thẻ bài sáng loáng dưới ánh mặt trời buổi sớm, soi rõ từng nét chạm nổi bốn chữ lớn: "Đông Cổ Trịnh tộc — Trưởng chi thừa ấm".
Mặt Trịnh Bá Hộ c/ắt không còn hột m/áu.
Chưa dừng lại ở đó, Thục c/âm chậm rãi bước lên bên cạnh Lương. Nàng nâng bọc vải bọc da trâu, đặt nhẹ nhàng xuống cạnh tấm thẻ bài bạc, rồi cẩn thận mở từng nếp gấp.
Mảnh vải yếm nhuộm củ nâu loang lổ vết huyết thư cùng chiếc khóa bạc hoa sen nhỏ bé chạm trổ tinh xảo hiện ra rõ mồn một. Mặt trên khóa bạc khắc một chữ "Thục" nắn nót.
Thục quay mặt về phía toàn thể dân làng và các vị kỳ mục lão làng đang ngồi ch** sững trên bậc thềm. Nàng giơ cao cánh tay trái của mình lên. Dưới ống tay áo nâu sồng kéo quá cùi chỏ, một vết chàm đỏ tươi hình hạt đậu nổi bần bật trên làn da trắng ngần của cô gái c/âm.
Nàng không nói được, nhưng hai giọt nước mắt lặng lẽ trào ra từ khóe mi, rớt thẳng xuống mặt chiếc khóa bạc.
Đỗ Lương bước lên một bước, đặt tiếp nửa đoạn sào lim g/ãy chín mươi tám vết vạch của cha mình lên trên tấm chiếu, bên cạnh mắt xích sắt gỉ ngoét vừa tháo từ cổ chân người ch**.
— Trịnh Bá Hộ! — Tiếng Đỗ Lương rền vang khắp sân đình, từng lời như búa tạ giáng xuống mặt đ/á. — Thẻ bài gia huy thừa ấm này rơi ra từ vạt áo của nàng Liên! Phiến đ/á bùa yểm 'Vĩnh trầm ba để' siết nát chân nàng dưới vực sâu sông Lương suốt hai mươi năm! Mảnh huyết thư này do chính ngón tay nàng cắn m/áu viết ra trước khi bị nẹp tre dìm lồng! Và đứa con gái mang chiếc khóa bạc dòng tộc họ Trịnh năm xưa... chính là cô Thục c/âm b/án hương bến đò đang đứng trước mắt các bậc bô lão đây!
Lương chỉ thẳng ngón tay chai sạn vào mặt Trịnh Cả:
— Hai mươi năm trước, cha tôi vì mười lượng bạc nhúng tay chèo đò che giấu tội á/c cho ông, cả đời ông ấy phải mang lời thề vớt chín mươi chín mạng người để chuộc lại nghiệp chướng! Nhưng mẹ con nàng Liên không chìm xuống đáy bùn để che tội gian d/âm bức tử cho ông bước vào đường khoa cử danh vọng đâu! Hôm nay trước thần linh đình làng, trước trăm họ Đông Cổ... ông còn chối được nữa không?
Cả sân đình chìm vào một cõi c/âm bặt rợn người.
Gió bấc bỗng từ ngoài sông thổi thốc vào khoảng sân rộng, làm bay phần phật góc manh chiếu cạp điều. Mấy vị bô lão bậc kỳ mục họ Đỗ, họ Lê ngồi trên sập gỗ r/un r/ẩy nhìn nhau, rồi nhìn trừng trừng vào chiếc khóa bạc và tấm thẻ bài nằm sờ sờ giữa chiếu hoa. Không một ai dám hé răng nửa lời.
Trịnh Bá Hộ lảo đảo lùi lại nửa bước. Bàn tay đang siết ch/ặt chuỗi tràng hạt bồ đề nơi cổ tay lão co quắp dữ dội.
"Rắc!"
Sợi chỉ tơ tằm giữ chuỗi hạt bỗng đ/ứt phựt.
Hàng trăm hạt bồ đề màu nâu sẫm văng tung tóe khắp nền gạch đ/á hoa, nảy lách tách, lăn lông lốc qua từng kẽ gạch rồi dừng lại quanh mép chiếc chiếu cói đẫm m/áu người ch**.