“Lòng ta hướng về nàng, nguyện cùng nàng kết tơ hồng nơi trần thế, dong ruổi khắp chốn, khi náo nhiệt phồn hoa, lúc ẩn dật sơn dã, trăm năm đồng tâm, bạc đầu chẳng phụ, dẫu vạn nạn nghìn nguy, trọn đời chẳng rời.”
Dưới mái hiên, bên song cửa, chàng nói lời chân tình, ánh mắt kiên định, từ từ giãi bày tâm tư.
Sau khi Lư Cảnh rời đi, ta ngồi thừ người dưới hiên, lòng rối bời chẳng biết làm sao.
Chẳng rõ tự lúc nào, Niệu Nương đã len lén đến sau lưng, vỗ mạnh vào vai ta một cái “bốp”.
“Trai gái tư hội dưới hiên nhà, hí hí, đã thành công chưa?”
Ta gi/ật mình hoảng hốt, vội vàng biện bạch: “Lư quan nhân là người quân tử chính trực như trăng thanh gió mát, đối đãi với ta vốn đúng lễ nghi, nàng đừng hòng bôi nhọ thanh danh người ta.”
Niệu Nương gi/ận dữ chỏ mạnh vào trán ta: “Đồ ngốc! Ta hỏi mày đã hạ thủ thành công chưa! Gã họ Lư kia gia tư hậu hĩnh, dung mạo tuấn tú, nhân phẩm hơn người, bỏ lỡ chàng này thì đích thực mất vàng. Mày không lấy hắn, lẽ nào về làm dâu tiệm thịt nướng Lưu Đại Lang? Lý Thiết Hoàn à, ta không dọa đâu, mày mà không ra tay nữa, ta sẽ xông lên đấy!”
“Mày dám!”
“Sao không dám? ‘Nữ nhi ra khó, dạy lang thả sức yêu, thả sức yêu ơi—’”
Niệu Nương vểnh ngón tay hoa, mắt lúng liếng dựa vào ta, còn vươn cổ chủ động hôn lên.
Không kịp phòng bị, ta suýt bị ả hôn trúng má.
“Đồ mặt dày mày dạn, dám hát khúc d/âm tình trước mặt ta! Đứng lại, ta đ/á/nh ch*t mày đây!” Ta bật dậy hằn học, giơ tay đuổi đ/á/nh.
Tháng ba cuối xuân, Biện Kinh cỏ non én liệng, phố Phan Lâu bỗng dựng lên tòa Tuyết Trân lâu mới.
“Kính cáo chư vị, hôm nay bản thư tên là 《Biện Kinh Trân Hoàn truyện》. Chuyện rằng phố Phan Lâu có lầu Tuyết Trân mới khai trương, chủ quán là tiểu nương tử có nốt ruồi đỏ giữa trán, tên gọi Lý Hoàn, lại có kim lan muội muội tên Lý Trân Nhi, ôi hai nàng đều là nữ tử kỳ tài. Thuở ban đầu, hai người gặp nhau tại núi Tuyết Ưng—”
“Núi Tuyết Ưng gió lạnh tuyết rơi, tuyết phủ cao hơn cả thành lầu Nam Huân. Lương thực sắp cạn, Trân Nương tự biết bệ/nh nặng khó qua, đành mặc mỗi chiếc áo mỏng, dưới gốc tùng cổ tự đóng băng đến ch*t, ôi thật đáng thương, đáng kính thay!”
Kể đến đoạn động lòng, thư sinh trong lầu nói truyện nghẹn ngào, lệ ướt mi. Khách nghe dưới sân dù nam hay nữ đều sầu thảm.
Có khách lau nước mắt cảm thán: “Khác nào nghĩa khí Dương Tả thời Chiến Quốc. Một người sống, hai người ch*t, hai ch*t ích chi? Hi sinh thành nhân mỹ. Hành động của Trân Nương tựa Tả Bá Đào năm xưa.” “Hai nữ tử yếu đuối, một vì nghĩa kim lan sẵn sàng hi sinh, một mang chí cao nuôi nấng nhi đồng, thật khiến nam nhi hổ thẹn, bi ai mà hùng tráng!”
“Này, còn đợi gì nữa, mau đến Tuyết Trân lâu thôi! Nghe nói yến sơn hải ở đó mỗi ngày chỉ mười bàn, đến muộn hết chỗ đấy.”
“Đi đi, nghe đồn Tần vương cùng các tướng công thường đến đó dùng món sơn hải đấu, may ra còn được diện kiến.”
“….”
Tòa Tuyết Trân lâu của ta từ ngày khai trương luôn đông nghịt, thậm chí có khách bỏ ra hai ngàn quan bao nguyên năm nhã gian.
Được cảnh hưng thịnh như vậy, thực ra với nữ chủ quán này—
Không liên quan nửa đồng.
Thật ra là nhờ vô số người ra tay tương trợ.
Niệu Nương quen biết nhiều ở Châu Tây Ngoại Tử, nhờ các từ nhân, ca kỹ, thư sinh chép chuyện ta và Trân Nương thành ca từ, khúc điệu, biên thành thoại bản. Giờ đây khắp Biện Kinh đều biết 《Trân Hoàn truyện》, giếng nước nào cũng ngâm nga chuyện nghĩa kim lan.
Nghênh Xuân tỷ tài nấu nướng tuyệt luân, đảm nhiệm chủ chưởng hậu trường Tuyết Trân lâu. Dưới sự thúc giục lải nhải của bà, bếp núc cách ba hôm lại ra món mới, thực đơn trong tay trà tửu bác sĩ mỗi lần đều khiến thực khách ngạc nhiên.
Lư Cảnh càng hơn thế, tại Biện Kinh chàng có vô số huynh đệ, lại thân thiết với Tần vương. Tần vương vốn nhiệt tình, từ ngày khai trương thường lui tới ủng hộ, khiến các tiểu thư quan gia khắp kinh thành đua nhau đeo trâm ngọc tới xem. Giờ đây, từ quan quyền cao sang đến dân thường áo vải, ai chẳng biết Tuyết Trân lâu?
Lư Cảnh nói lợi nhuận lầu Tuyết Trân, sáu phần về chàng, bốn phần về ta.
Ban đầu ta chẳng để tâm, nào ngờ tới tháng chín, ta đã chia được hơn một ngàn hai trăm quan.
Lâm vào cảnh phú quý dữ dội, ta choáng váng như tượng đất.
Lư Cảnh cười khẽ gảy vào trâm cài tóc ta: “Còn đờ đẫn làm chi? Đưa tiền đây, ta lập tức sai người tới Thạch Châu.”
Mùa đông năm Hy Xuân thứ năm, hàng trăm thợ lành nghề trùng tu điện Thần Nữ trên núi Tuyết Ưng, đúc tượng vàng thần nữ.
Đêm tượng vàng hoàn thành, Trân Nương tỷ lại về trong mộng.
Ta xúc động hỏi: “Tỷ tỷ, Sơn thần còn b/ắt n/ạt chị không?”
Trân Nương tỷ khoác hồ cừu vàng, mặt hồng hào, thần thái tươi tắn, chẳng còn vẻ tiều tụy ngày xưa.
Nàng nắm tay ta khóc nức nở: “Muội muội ơi, nay ta đã tu thành kim thân, sắp phi thăng thành thần, thế gian này không ai dám kh/inh nhờn ta nữa.”
“Tỷ tỷ ơi, chờ em, ngày mai em sẽ tới thăm chị.”
“Không,” nàng lắc đầu, “Tiểu Hoàn, đừng ngoảnh lại đường xưa. Em đi tới hôm nay thật chẳng dễ dàng, quá khứ quá đắng cay, hãy tiến về phía trước. Phía trước có đoàn viên nhân gian, có vạn nhà khói bếp, em là người có phúc, sau này con cháu đời đời hưng thịnh.” Ta khóc, lệ rơi lã chã trên tay nàng: “Tỷ tỷ, chúng ta còn gặp nhau nữa không?”
Trân Nương tỷ mỉm cười, dịu dàng lau giọt lệ trên mi ta, ngoảnh nhìn hư không từ bi:
“Thiên đạo có thường, lưu tức thị khứ, khứ tức thị lưu. Tiểu Hoàn ơi, trăng tròn là ta, bụi trần là ta, hoa nở rừng sâu là ta, gió đêm đông cuốn tuyết cũng là ta. Chỉ là khi ta hiện hình, em đang chìm trong giấc ngủ, lúc em tất bật, ta vội vã lướt qua. Chúng ta chỉ không còn gặp mặt nữa, nhưng vẫn mãi trong tim nhau.”