Tôi không rõ bà ta thật lòng nghĩ vậy, hay chỉ để tỏ lòng trung thành với Từ Giới. Nhưng dù bà nghĩ gì, cũng không hề coi tôi là con người. Trong màn trướng, tôi nắm ch/ặt góc chăn, nuốt trôi phẫn h/ận và bất lực, nhẹ nhàng nói: "Mẹ mụ nói phải. Nếu không nhờ mẹ mụ sai tỳ nữ về phủ báo tin, giờ tôi đâu có được cái phúc lớn này." Tôi nở nụ cười, bước xuống đỡ bà dậy, mời ngồi bên giường. "Tôi vốn là đứa nhà quê, đột nhiên lên làm chủ mẫu phủ Hầu, thật như ruồi không đầu. Xin mẹ mụ kể cho tôi nghe, tiền phu nhân là người thế nào? Cách đối nhân xử thế ra sao? Nếu học được chút bề ngoài, cũng là báo đáp ơn nghĩa."
Lão mẹ mụ họ Trần, nguyên là người theo hầu Vệ gia về làm của hồi môn, hiểu rõ tiền phu nhân. Qua lời bà Trần, tôi ghép lại hình ảnh Vệ Tuyết Ý đầy đủ hơn. Nàng và Từ Giới vốn là bạn thuở ấu thơ, cũng xuất thân võ tướng thế gia. Trước kia, Vệ Tuyết Ý từng cùng Từ Giới ra trận mạc. Sau khi Từ Giới khải hoàn, dựa vào chiến công xin chỉ vua ban hôn, nên sau khi thành hôn, nàng lui về khuê các.
Bà Trần nói: "Tuy Tuyết Ý tiểu thư có chút bản lĩnh, nhưng đó vốn là việc của nam nhi. Sau khi thành hôn, nàng thường oán than, thật không nên."
Việc gì là nam nhi nên làm? Việc gì là nữ tử phải gánh? Tương truyền Vệ Tuyết Ý hiền thục đức hạnh, chủ động lo cho Từ Giới nạp thiếp. Thấy thân phận huyện chúa của đối phương cao quý, dù Từ Giới nhiều lần từ chối, nàng vẫn nâng lên làm bình thê. Đó là giai thoại đẹp, từ đế đô truyền ra biên ải.
Bà Trần cũng kể như vậy, nhưng tôi lắng nghe chi tiết nhỏ, lại nghe ra điều khác biệt. Bà Trần nói, Vệ Tuyết Ý và Từ Giới từng sống ch*t có nhau, tình thâm nghĩa nặng. Ngày thành hôn, hai người thề nguyền một vợ một chồng, không rời bỏ nhau. Thế mà Từ Giới vẫn nạp huyện chúa, còn cho làm bình thê. Kỳ lạ là từ khi Vệ Tuyết Ý ch*t, cả thành không ai còn nghe hay thấy vị huyện chúa đó nữa.
Tôi hỏi: "Nghe nói Hầu gia giờ không vợ không thiếp, vậy vị huyện chúa kia đi đâu?" Bà Trần gi/ật mình, lấp lửng: "Sau khi phu nhân tiên đi, Hầu gia đ/au lòng quá độ, bèn đuổi nàng về nhà."
Tôi gặng hỏi thêm về cái ch*t của Vệ Tuyết Ý. Bà Trần quay đi, vết s/ẹo trên má trái dưới ánh nến mờ ảo uốn lượn gh/ê r/ợn. Cả khuôn mặt bà toát lên vẻ kinh hãi: "Tiền phu nhân bệ/nh mất, việc này ai cũng biết. Lão nô không hiểu, cô nương còn muốn hỏi gì?"
Tôi muốn hỏi: bệ/nh ch*t có hai loại, một là tự mình mắc bệ/nh nan y, hai là bị người hại. Vậy tiền phu nhân thuộc loại nào? Nhưng nhìn vẻ mặt giấu giếm của bà Trần, tôi nuốt câu hỏi, ngồi thẳng tiễn khách: "Tôi không còn gì để hỏi, mẹ mụ về đi."
Bà Trần do dự không chịu đi. Tôi ngẩng đầu nhìn bà, cười không thành tiếng: "Tôi do mẹ mụ tiến cử, mẹ mụ tự khắc biết tôi đến để làm chủ mẫu mới của phủ Hầu. Vậy nên sau đêm nay, mẹ mụ nên đổi cách xưng hô, gọi tôi một tiếng 'phu nhân'."
Tôi buộc phải xoay chuyển cục diện tử, mới có thể giành đường sống cho mình và gia đình.
Tôi bắt đầu yên tâm chuẩn bị làm chủ mẫu phủ Hầu. Giang Văn Nhạn tuân thủ phận sự, chỉ cúi đầu làm việc, chẳng bao giờ ngẩng cao đòi công. Trong khu phố nhỏ, có nhiều câu chuyện trai gái oán h/ận. Có kẻ bị chia lìa, cùng nhau t/ự v*n. Có chàng trai ch*t bệ/nh, cô gái cả đời không lấy chồng. Hoặc phổ biến nhất là nghe theo mệnh cha mẹ, mai mối, kết hôn với người không yêu, rồi cả đời giấu một bóng hình trong tim.
Nhưng những chuyện ấy đều xoay quanh chữ "tình". Riêng Giang Văn Nhạn, nhìn kỹ thế nào cũng không giống người vì yêu Từ Giới mà quyết ở lại phủ Hầu. Khi nàng kiểm kê chi tiêu cho đại hôn, tôi bóng gió hỏi: "Nhị tiểu thư đã đạt được điều mình muốn chưa?" Giang Văn Nhạn siết ch/ặt sổ sách, ánh mắt dừng ở chùm chìa khóa quản gia: "Bẩm chủ mẫu, thiếp thân đã mãn nguyện."
Không mưu tình mà mưu lợi, người như vậy lại dễ giao thiệp nhất. Nhân tình là thứ khó tính toán nhất, cũng dễ biến đổi nhất.
Có thể nói chuyện tiền bạc, tuyệt đối không nói chuyện tình cảm. Tôi rót thêm nước trà, hứa với nàng: "Tôi và Nhị tiểu thư mưu cầu khác biệt. Tôi chỉ cần một góc an thân. Những gì tiểu thư muốn, tôi tuyệt đối không tranh đoạt."
Đến lúc này, Giang Văn Nhạn mới lần đầu nhìn thẳng vào tôi. Trong ánh mắt nàng có nghi hoặc, có thưởng thức, có chờ đợi. Không sao, ngày dài còn lâu.
Hôn sự định đoạt vội vã. Hai ngày trước đại hôn, cả phủ nhộn nhịp người qua lại, ai nấy bận rộn tối tăm mặt mũi. Thấy tôi ngoan ngoãn chờ xuất giá, lại nhỏ nhẹ nài xin, trước đại hôn một ngày, Từ Giới cuối cùng cho phép tôi gặp gia đình.
Chị gái dìu mẹ vào hậu viện. Dưới bầu trời xám xịt, tôi nhìn thấy rõ mái tóc mẹ đã bạc quá nửa. Bà cố quấn khăn che đi, nhưng tóc bạc có thể giấu, mắt đỏ ngầu thì không. Ắt hẳn mẹ đã khóc nhiều đêm vì tôi.
Người ta nói chủ mẫu phủ Hầu vô cùng cao quý, rơi vào nhà nào cũng là chuyện vui tổ tiên phù hộ. Nhưng người mẹ thật lòng thương con gái, tuyệt đối không muốn nhìn con bước vào hang hổ sói này. Cố gắng mấy ngày, cuối cùng tôi cũng òa khóc trong lòng mẹ và chị, tủi thân rơi lệ.
Mẹ xoa lưng tôi, giọng run run: "Giàu sang gì mẹ cũng không ham, mẹ chỉ muốn con theo Đồng Sinh. Làm thợ giấy cả đời thì sao? Ít nhất được bình yên đến già."
Tôi cũng xoa lưng mẹ, mấy lần mở miệng mới dám hỏi: "Đồng Sinh giờ... có ổn không?"
Lục Đồng Sinh, thằng bạn cùng xóm ít nói của tôi. Nó không hay chuyện trò, theo ông nội học nghề làm đồ giấy, ki/ếm đủ nuôi thân. Người ta bảo Đồng Sinh hợp với nghề này, đã không giỏi giao tiếp với người sống, thì làm đồ cho người ch*t. Căn sân nhỏ vốn đơn sơ, treo đầy cờ trắng chữ đen, từ nhỏ đã không ai dám đến chơi.
Chỉ có tôi nhớ năm xưa cha mất, nhà nghèo x/á/c xơ, đóng xong qu/an t/ài không còn đồng nào. Ông nội Đồng Sinh động lòng thương, thức trắng đêm làm đồ tang lễ, sai cháu trai mang đến nhà tôi.