Xe ngựa từ từ khuất bóng, Tống Dược vẫy tay chào tôi, cuối cùng tôi không nhịn được khóc gọi theo hắn:
"Tống Dược... phải biết trân trọng mạng sống nghe..."
Tạ Nhuận Chi nói, suốt chặng đường này Tống Dược luôn cẩn trọng từng sinh mệnh.
Hắn yêu quý thân thể vô cùng, trời chưa lạnh đã mặc áo bông, người hơi khó chịu đã uống th/uốc ngay, chẳng bao giờ dấn thân vào nơi hiểm địa.
Ngay cả lời mời du thuyền hồ cũng từ chối, chỉ vì sợ gió lớn gây nguy cơ chìm đò - Tống Dược vốn không biết bơi.
Ngay Tạ Nhuận Chi cũng công nhận, Tống Dược quả thực là kẻ tham sống sợ ch*t.
Mỗi sĩ tử nhập kinh đều nôn nóng kết giao tứ phương, mong sớm nổi danh.
Nhưng Tống Dược sau khi tới kinh thành, đã lặng lẽ ẩn náu suốt hai tháng tròn.
Hắn chọn thời cơ chuẩn x/á/c, chuẩn bị kỹ càng, x/á/c định rõ nhân vật nương tựa rồi mới xuất hiện.
Sai lầm nằm ở chỗ, Tống Dược đ/á/nh giá thấp tài hoa của chính mình.
Một bài thơ truyền khắp kinh kỳ, trở thành tấm vé thông hành đưa hắn vào mắt xanh của trưởng lão phe Thanh Lưu.
Nhưng cũng chuốc lấy sự gh/en gh/ét từ môn sinh phe này.
Phe Thượng Thư lại nhân cơ hội xen ngang, mời Tống Dược vào phủ đàm đạo.
Lời đồn kết hôn rể chỉ là mồi nhử.
Thượng thư lấy chính mình làm mồi, khiến phe Thanh đàn hạch tội "tiến cử cử nhân tư lợi", rồi đúng lúc phản công tố ngược "vu cáo đại thần".
Phe phái tranh đấu: giành quyền phát ngôn, giành chức giám khảo khoa cử, giành đào tạo môn sinh... tranh đến sống mái.
Tống Dược chỉ là con tốt nhỏ bị cuốn vào vòng xoáy bất hạnh.
......
Tạ Nhuận Chi kể, ngay khi nhận ra điều bất ổn, Tống Dược đã chuẩn bị rời kinh thành.
Hắn biết mình chỉ là hạt bụi nhỏ, không đủ sức chống đỡ nên quyết định từ bỏ khoa cử.
Nhưng sợ vạn nhất bất trắc, trước khi đi hắn để lại hai phong thư.
Một gửi về Đào Hoa huyện kèm thư phóng thê.
Một giao Tạ Nhuận Chi giữ hộ ở kinh thành.
Tạ Nhuận Chi bảo, Tống Dược đã ra khỏi thành môn.
Tôi không hiểu, hỏi hắn: "Vậy rốt cuộc vì sao?"
Tạ Nhuận Chi đáp: "Phe Thanh Lưu có nhiều uy tín với hàn môn, Thượng thư đại nhân cần một kẻ bần hàn tế cờ."
Tôi không hiểu, hoàn toàn không hiểu, nhưng không truy hỏi thêm.
Nếu muốn hỏi, hỏi trời hỏi đất, thứ dân này có vô vàn câu hỏi không lời đáp.
Vì sao thuế tăng khi mùa màng thất bát? Vì sao năm nào cũng hồng thủy? Vì sao cuộc sống mãi khổ cực...
Nếu cứ hỏi... thứ dân này sẽ không sống nổi nữa.
Tôi không hiểu, nhưng nghe rõ câu này—
"Thượng thư đại nhân muốn hắn ch*t... phe Thanh cũng chẳng trong sạch."
Thế nên, tôi khoác lên mình d/ao mổ lợn, vào thành.
16.
Ngày thứ ba nhập thành, tiết Tuế Trừ.
Phố phường tràn ngập pháo n/ổ rư/ợu thơm, cây lửa hoa bạc.
Tôi làm quen đám du thủ ở tửu quán Tây thị.
-
Ngày thứ hai mươi ba, khoa cử khai mạc.
Rồng môn Cống viện mở, đèn thông minh thắp suốt đêm ngoài tường Lễ bộ.
Tôi lên lầu cao, dõi mắt nhìn xe ngựa Thượng thư đại nhân.
-
Ngày thứ năm mươi tư, ngày treo bảng.
Hàn môn có mười ba tiến sĩ, Thượng thư Lễ bộ tố cáo giám khảo "chọn sĩ bất công".
Triều đình tranh luận không ngừng, hoàng đế hạ lệnh phúc thí.
Tôi hối lộ lính canh khu Tĩnh An.
-
Ngày thứ sáu mươi mốt, ngày treo bảng lại.
Mười một tiến sĩ hàn môn bị tước danh hiệu, phe Thượng thư đại thắng.
Tôi dẫn đám du thủ cải trang thành "người đưa than" ẩn náu trong phường.
-
Ngày thứ sáu mươi sáu, ngày thượng triều.
Giờ Dần khắc thứ ba, Thượng thư Lễ bộ cưỡi ngựa ra khỏi Tĩnh An phường, phía sau chỉ hai vệ sĩ.
Tới cổng đông, đèn lồng người đ/á/nh xe vụt tắt.
"Chuyện gì thế?"
Trong bóng tối, Thượng thư đại nhân vừa cất tiếng hỏi, mũi tên lạnh từ mái nhọ b/ắn trúng chân trái.
Thượng thư ngã ngựa, tùy tùng kinh hãi.
Mấy kẻ từ ngõ tối xông ra, vung đ/ao phân tán vệ sĩ.
Sương sớm che vầng trăng khuyết, lần đầu tôi nhìn rõ đôi mắt Thượng thư đại nhân.
Trong đó đầy hoang mang, nghi hoặc: "Ngươi là..."
Ba ngón dưới yết hầu mở động trời.
Tôi giơ tay, một nhát d/ao ch/ém xuống.
Giọng điệu bình thản đáp lời hắn:
"Ta là đồ tể."
17.
......
Tôi tìm thấy Tống Dược trên ngọn núi vô danh phía bắc thành.
Một nấm m/ộ đất vàng.
Tống Dược yên giấc trong đó.
Tôi nằm xuống bên hắn, áp má vào nấm m/ộ, nghiêng đầu ngắm lá cây bên đường.
Hồi lâu, tôi rút từ tay áo ra phong thư, lẩm bẩm:
"Tống Dược, thầy đồ Đào Hoa huyện dốt nát quá... họ đều bảo đây là thư phóng thê."
"May mà ta hỏi Tạ Nhuận Chi..."
Lần trò chuyện cuối với Tạ Nhuận Chi, tôi đưa thư phóng thê hỏi hắn:
"Đây là gì?"
Tạ Nhuận Chi ban đầu cũng đáp: "Là thư phóng thê."
Tôi chỉ cười nhìn hắn, không nói gì.
Chưa đầy hai nhịp, Tạ Nhuận Chi đã đầu hàng:
"Thôi được... đây là bài thơ, ta đọc cho ngươi nghe."
Tạ Nhuận Chi chỉ đọc một lần, giọng nghẹn ngào không thành điệu, nhưng tôi nghe rõ từng chữ.
Đây có lẽ là bài thơ "dở nhất" Tống Dược từng viết—
"Nắng đẹp gió hiền, từng bên hoa thỏ thẻ
Vợ hiền đức hạnh, ngặt nỗi thế sự khó toàn
Lòng ta dẫu đ/au, duyên phận dừng nơi đây
Chẳng gặp lại nhau, chỉ mong nàng bình an như thuở
Bỏ mối tình này, nguyện nàng đời sau hân hoan
Chồng Tống Dược"
Đây là bài thơ tàng đầu.
Cũng là khúc biệt ly.
Ngón tay tôi lướt qua dòng tên cuối, tầm mắt dần nhòe đi.
Giọt lệ rơi trên môi, thấm vào miệng, vị đắng lan nhanh.
Tôi lại nhớ đến mứt ngọt của Tống Dược.
Rất lâu, rất lâu sau, tôi khẽ thốt:
"Tống Dược... ta về nhà thôi..."
(Hết)