Từ ngày mẫu hậu rời đi, hoàng cung càng thêm lạnh lẽo. Những tờ tấu xin tuyển phi tần mỗi ngày như tuyết rơi chất đầy bàn ngự lãm tấu chương của phụ hoàng, rồi lại bị cung nhân bên cạnh xếp thành chồng chất vào nơi khuất bóng mặt trời, phủ đầy bụi thời gian.
Phụ hoàng không muốn nạp thêm phi tần, ngay cả hai mỹ nhân ngoại tộc vốn có trong cung trước khi ngài chấp chính, cũng được thả ra ngoài.
Phụ hoàng nói, cả đời ngài chỉ có mẫu hậu là chính thất, cũng chỉ có ta một hoàng tử duy nhất.
Mỗi ngày, tình hình của mẫu hậu đều được người của phụ hoàng phi ngựa truyền tin về từ thôn Đào Sơn ngoài hoàng thành.
Lá thư mỏng manh chỉ ghi chép chuyện cơm nước thường nhật, thế mà phụ hoàng xem đi xem lại không biết chán.
Ta hỏi phụ hoàng, đã nhớ thương như vậy, sao không tìm đến mẫu hậu?
Phụ hoàng nói, ngài đã phụ lòng mẫu hậu, nên giờ đây nàng không muốn gặp lại ngài nữa.
Nghe đến đó, lòng ta cũng chùng xuống, nào chỉ phụ hoàng, ngay cả ta - đứa con do nàng sinh ra - cũng từng dối gạt mẫu hậu.
Nhưng so với phụ hoàng, ta vẫn may mắn hơn nhiều.
Những lúc nhàn rỗi, mẫu hậu thường khâu vá giày vớ và y phục cho ta. Đến ngày sinh thần, phụ hoàng lại phái người đưa ta đến thôn Đào Sơn nơi mẫu hậu an cư.
Trước ngày sinh nhật thứ mười một, ta đến từ biệt phụ hoàng.
Phụ hoàng sai cung nhân đưa một chiếc hộp gấm, bên trong là nghiên mực thượng hạng - món quà sinh nhật ngài chuẩn bị sẵn cho ta mỗi năm.
Ta tạ ơn phụ hoàng, ngần ngừ một lát, phụ hoàng lại mở lời: "Hôm nay con hãy lên đường sớm, nàng ắt hẳn muốn sớm được gặp con."
Ta vâng lời, rồi cuối cùng không nhịn được hỏi thêm: "Phụ hoàng có lời nào nhắn gửi mẫu hậu không?"
Nhìn vị hoàng đế chưa đến tuổi tam thập mà tóc mai đã điểm sương trong điện, đờ đẫn nhìn tờ tấu chương trong tay, rất lâu sau mới lắc đầu.
Mẫu hậu sống rất tốt ở thôn Đào Sơn. Dù mang tật c/âm, nhưng nhờ viết chữ đẹp, thường giúp dân làng viết thư từ. Dần dà, người khắp mười dặm đều gọi bà bằng hai tiếng "nữ tiên sinh".
Bà nói với dân làng rằng đã ly hôn với phu quân, để ta lại bên cha, nên chỉ gặp con vào ngày sinh nhật.
Dân làng vây quanh ta, nhắc nhở mãi những lời sau này phải hiếu thuận với mẫu thân.
Mặt ta đỏ bừng đáp lời từng người, ngẩng đầu thấy nụ cười mỉm nơi khóe môi mẫu hậu, ánh mắt lấp lánh nét tinh nghịch.
Lúc ấy ta chợt hiểu vì sao mẫu hậu không muốn ở lại hoàng cung.
Đời vốn khó khăn với nữ nhi, huống chi là mẫu hậu giữa chốn thâm cung.
Ta ở cùng mẫu hậu ba ngày, lúc lên đường cũng hỏi: "Mẫu hậu có lời nào nhắn gửi phụ hoàng không?"
Mẫu hậu xoa má ta, rồi cũng lắc đầu như cách phụ hoàng đã làm.
Về chuyện năm xưa phụ hoàng bày kế giả tử cho ta, ta từng hỏi vì sao không nói trước với mẫu hậu. Ngài nói đã hứa với mẫu hậu không để ta dính líu đến quyền lực hoàng gia, nhưng cuối cùng lại thất hứa.
Ngài không mặt mũi nào đối diện với mẫu hậu.
Phụ hoàng nói, năm đó Tạ tướng dùng chuyện khoa cử dụ ngài vào trận, bẻ g/ãy xươ/ng sống vừa mới nhú của hoàng đế Đại Chu. Ngài vẫn nhớ như in hình ảnh bốn mươi ba tân khoa quỳ trong ngục tù, mình đầy m/áu me nhưng lời lẽ vang động: "Cúi mong Đại Chu sớm dẹp yên triều chính, trừng trị bè đảng Tạ tướng, khôi phục thịnh thế thái bình. Thần đẳng dẫu ch*t hôm nay cũng không hối h/ận!"
"Vì trẫm, vì Đại Chu, bao chí sĩ dẫu ch*t không hối. Trẫm... không thể lùi bước."
Ngài không phụ lòng Đại Chu, nhưng lại phụ lòng mẫu hậu. Nên khi nàng muốn rời đi, ngài buông tay.
Ta từng nghĩ phụ hoàng và mẫu hậu sẽ sống những ngày tháng như thế đến hết đời. Cho đến một hôm, ám vệ như thường lệ dâng lên tấu chương ghi lại hành tung của mẫu hậu.
Nhìn rõ chữ trên tờ tấu, gương mặt vốn điềm nhiên như núi Thái Sơn sụp đổ trước mắt của phụ hoàng bỗng chốc rung động.
Khi ấy ta đang giúp phụ hoàng mài mực, liếc nhìn qua cũng sững sờ.
Thư tấu viết, mẫu hậu được một thợ săn cầu hôn. Người thợ săn phương phi tuấn tú, đối đãi với mẫu hậu rất mực chu đáo.
Ta thấy bàn tay phụ hoàng nắm tờ tấu run nhẹ.
Phụ hoàng ngồi lặng trong điện suốt đêm dài. Không ai biết đêm đó, trong lòng ngài đã nghĩ những gì.
Chỉ biết sáng hôm sau, phụ hoàng rời hoàng cung đến thôn Đào Sơn.
Theo lời dân làng kể lại, hôm đó có vị công tử tuấn tú từ kinh thành đột ngột tìm đến nhà mối lái thôn Đào Sơn, cầu hôn Tạ thị Uyển Nương.
Từ đó, phụ hoàng đến thôn Đào Sơn càng ngày càng nhiều.
Khi ta qua sinh nhật thứ mười sáu, phụ hoàng thiện vị cho ta, dời đến thôn Đào Sơn an cư.
Từ đây, trên đời không còn Kiến Nguyên hoàng đế và Vinh Đức hoàng hậu, chỉ còn Hạ Hưu Minh và Tạ Uyển Nương.