“Lụa vốn gấm hoa lành.” Trịnh Thừa khẽ thở dài, “Tiếc thay ẩm thấp lâu ngày, vết mốc đã ngấm sâu vào thớ vải, khó lòng tẩy sạch. Màu sắc cũng phai nhạt hơn phân nửa.” Chàng lại chỉ tay về phía mép lụa, “Ngươi xem đây, còn có lỗ nhỏ do mối mọt đục khoét. Bảo quản chẳng đúng cách.” “Lụa thế này, chỉ có thể tháo ra làm miếng vá, hoặc x/é nhỏ làm tơ bông. Giá trị đã sụt giảm nghiêm trọng.” Lời chàng nói ra đều hợp tình hợp lý. Lão quản gia đỏ mặt tía tai, không sao cãi lại được.
“Thế... thế cũng không thể rẻ mạt đến thế!”
“Giá này,” Trịnh Thừa nhìn thẳng vào mắt lão, “ta m/ua vào còn mang thêm rủi ro. Ví như xử lý không xong, chỉ có nước ôm cả đống đồ bỏ.”
Lão quản gia thở dài n/ão nuột. Đảo mắt nhìn mấy hòm lụa hư hỏng, lại ngước nhìn gương mặt điềm tĩnh khó đoán của Trịnh Thừa. Lão nghiến răng đáp: “Được! Coi như vứt xuống sông! Tất cả giao cho ngươi!”
Trịnh Thừa gật đầu. “Lưu thúc.” Chàng gọi một tiểu nhị do Trương quản sự phái tới, “Mau giúp vị quản gia này khiêng hòm vào. Cân kỹ lượng.” Quay về bàn viết, chàng cầm bút lông viết nhanh tờ khế ước. Nét chữ vuông vắn, điều khoản rõ ràng. Lão quản gia nhìn tờ khế ước, lại ngắm cử chỉ đĩnh đạc của Trịnh Thừa, trong lòng bỗng dịu đi phần nào. Ít nhất, so với bộ mặt tham lam của lão chủ tiệm lụa nãy, gã thiếu niên này còn đỡ hơn nhiều.
Giao dịch hoàn tất. Lão quản gia cầm đồng tiền ít ỏi, vừa thở than vừa lủi thủi rời đi. Trịnh Thừa đứng lặng nhìn mấy hòm lụa ẩm mốc chất đống trong cửa hiệu. Chàng cầm lên một tấm, chăm chú xem xét từng vết mốc loang lổ. “Huynh ơi, thối quá...” Trụ Tử bịt mũi kêu lên. Trịnh Thừa chẳng thèm để ý. Chàng sai người bưng mấy chậu gỗ lớn, múc nước giếng đổ đầy. Từng tấm lụa được ngâm phân loại trong nước. Chàng bỏ vào thứ nước ấy mớ bã thảo dược rẻ tiền nhặt được từ đống phế thải - vốn là đồ bỏ của tiệm th/uốc, nghe đâu có thể khử mùi mốc. Ngâm. Vò. Giặt. Lặp đi lặp lại chẳng biết mệt mỏi.
Trụ Tử ngồi xem một lúc thấy chán, lại ôm con chó gỗ ra sân nghịch ngợm. Mấy ngày sau, những tấm lụa đã được giặt sạch phơi nơi thoáng gió được Trịnh Thừa treo trước cửa Tẩy Di Trai. Vết ẩm mốc đã nhạt, mùi hôi cũng bớt đi nhiều. Song do bị ngâm vò nhiều lần, vải lụa giờ đây xỉn màu, sắc độ nhợt nhạt như tro tàn. Người qua đường trông thấy đều lắc đầu chê bai.
“Màu này... xám xịt như đất, ai thèm m/ua?”
“Nhìn đã cũ, còn b/án giá gấm vóc? Ham tiền đến đi/ên rồi sao?”
Trịnh Thừa làm thinh. Trước hiệu, chàng dựng tấm biển nhỏ, trên đó viết mấy chữ: “Thảo mộc nhiễm sắc, đ/ộc nhất u vận. Lụa Hàng Châu, mềm mại êm ái. Mỗi tấm đặc biệt hạ giá.” Giá b/án không cao, rẻ hơn lụa mới nhiều, nhưng so với giá m/ua vào đã tăng gấp bội. Treo mấy ngày liền vẫn không có khách hỏi han. Trịnh Thừa chẳng hề nóng lòng. Ngày ngày vẫn mở hiệu, dọn dẹp, đọc sách.
Hôm nọ, chiếc xe ngựa bạt xanh lịch sự đỗ trước bến tàu. Bước xuống là một phụ nhân trẻ dung mạo đoan trang, nét mặt phảng phất u sầu cùng thị nữ theo hầu. Nàng dạo bước tản mạn nơi bến sông, bỗng dừng chân trước mấy tấm lụa “u vận sắc” treo trước hiệu. Đôi mắt nàng dần bừng sáng.
“Tiểu chưởng quỹ,” nàng bước vào hiệu, chỉ tay ra ngoài, “Lụa này... giá b/án thế nào?”
“Như chữ ghi trên bảng.” Trịnh Thừa đứng dậy đáp lễ.
“Màu sắc này...” phụ nhân khẽ vuốt tấm vải, “thật lạ mắt. Tựa sắc núi xa sau cơn mưa tạnh. Trầm mặc, lại thoáng chút... cổ kính khó tả.”
Trịnh Thừa gật đầu: “Phu nhân quả có con mắt tinh tường. Đây vốn là lụa Hàng ẩm mốc, dùng cổ pháp ngâm giặt nhiều lần, giữ lại sắc phai tự nhiên, lại thêm chút thảo mộc cố sắc. Mỗi tấm vân lụa, độ phai màu đều khác biệt, đ/ộc nhất vô nhị.”
“Độc nhất vô nhị...” người phụ nữ lẩm nhẩm, nét u buồn trong mắt như tan biến trước sắc lụa trầm mặc. “Cho ta lấy hai tấm.” Nàng nói, “Vừa hay định may cho phu quân hai bộ áo mặc nhà. Ông ấy... dạo này lòng dạ không yên, màu này nhìn êm dịu, may ra khiến tâm tư ông thư thái.”
“Vâng.” Trịnh Thừa nhanh nhẹn đo vải, c/ắt may. Phụ nhân trả tiền, ôm lụa ra về, dường như tâm trạng đã khá hơn. Khi sắp lên xe, nàng hỏi: “Tiểu chưởng quỹ, sắc lụa này có tên gọi chăng?”
Trịnh Thừa nhìn sắc xám biếc trầm tĩnh như khói núi sau mưa, khẽ đáp: “Gọi là 'Sơn Lam'.”
“Sơn Lam...” nàng nhẩm lại, “Thật là cái tên hay.”
Từ khi có vị khách đầu tiên, dần dà người ta bắt đầu chú ý tới thứ “lụa cũ” đặc biệt trước hiệu Tẩy Di Trai. Nó không rực rỡ, không phô trương, thậm chí có phần cũ kỹ, nhưng lại toát lên vẻ đẹp trầm mặc đ/ộc đáo, như được thời gian vuốt ve âu yếm. Lại thêm giá cả phải chăng. M/ua về may áo mặc nhà, rèm cửa, túi sách, hay gói đồ đều thích hợp. Nhất là với những gia đình nho học cần sự tinh tế mà không phô phương, hoặc các phụ nhân yêu thích nét đ/ộc đáo. Lụa “Sơn Lam” của Trịnh Thừa bỗng chốc trở nên đắt hàng. Mấy hòm lụa ẩm ứ đọng bị chàng biến hóa thành bảo vật, thu về món lợi kha khá.
Danh tiếng Tẩy Di Trai cũng nhờ thứ lụa đ/ộc đáo này mà lan xa khắp bến tàu và các trấn lân cận. Thiên hạ đều biết nơi bến tàu có hiệu Tẩy Di. Vị tiểu chưởng quỹ tuy trẻ tuổi nhưng mắt tinh, óc sáng. Biến đồ cũ thành vật mới lạ. Buôn b/án dần thuận lợi. Hàng thu m/ua đủ loại kỳ lạ. Đồ b/án ra cũng chẳng ít. Trịnh Thừa quản sổ sách rành mạch rõ ràng. Chàng còn dùng tiền lời thuê một bà lão thật thà đến nấu cơm trưa và dọn dẹp. Ta với chàng, cuối cùng cũng thoát cảnh cơm không đủ no. Trụ Tử thành “linh vật” nơi cửa hiệu. Cậu bé thích ngồi trên chiếc ghế nhỏ trước hiệu, nghịch những món đồ gỗ do huynh trưởng làm cho. Nụ cười ngây ngô khiến khách hàng cảm thấy gần gũi. Trương quản sự thỉnh thoảng ghé thăm, thấy việc buôn b/án thuận lợi, con trai vui vẻ, trong lòng mừng thầm. Tôn chưởng quỹ thành khách quen nơi hiệu, thường mang đến những món đồ cổ quái nhờ Trịnh Thừa xem giúp, hoặc cùng uống trà đàm đạo. Cuộc sống dường như đang trôi về phía bình yên no đủ.
Cho đến một hôm, vị khách không mời đã xông vào Tẩy Di Trai.