Trời vừa hừng sáng, những kẻ ch*t đã ch*t, kẻ chạy đã chạy, dù trong thôn cũng có người bị thương, nhưng so với cảnh nhà tan cửa nát, đã là kết cục tốt đẹp nhất. Dân làng tự phát tổ chức canh gác ban đêm, giữa chừng lại đẩy lui mấy đợt quấy nhiễu của giặc cư/ớp. Bà nội sau ba ngày ba đêm vật vã, cuối cùng cũng hạ sinh đứa con thứ hai. Cũng là một bé trai, nhưng trên trán non nớt của đứa trẻ có một khối u đen tím trong suốt, da xung quanh còn đỏ ửng, không giống vết bẩn từ trong bụng mẹ, mà như thể bà nội ngã đ/ập đầu vào đ/á. Ông nội nén nước mắt an ủi bà nội, có lẽ vài ngày nữa sẽ khỏi, nhưng bà nội lại bình thản lạ thường, tựa hồ đã chuẩn bị tinh thần từ trước. Đứa bé suốt ngày khóc ngằn ngặt, đôi bàn tay bụ bẫm luôn cố gãi lên đầu, khóc dữ dội đến mức co gi/ật. Bà nội biết, nó đang đ/au đầu, đ/au đến mức bú cũng không nổi. Đêm hôm ấy bà nội thức trắng, đến sáng hôm sau thì đứa bé đã tắt thở. Lộ Sinh lên sáu ngây ngô hỏi bà nội, sao trời lạnh thế mà bà vẫn quạt suốt đêm. Đứa trẻ không nhận được câu trả lời. Từ đó về sau, bà nội bắt đầu hút th/uốc lào, khói cay xè thường khiến bà chảy nước mắt, nhưng bà vẫn say mê không ngừng.
Năm bà nội ba mươi lăm tuổi, triều đại mới thành lập, trăm nghề hồi sinh, quan phủ khuyến khích buôn b/án, hai vợ chồng bà lại bắt đầu vào thành làm ăn. Bà nội đầu óc linh hoạt, bảo ông nội làm gì thì làm nấy, chưa đầy mấy năm nhà đã dành dụm được ít tiền. Bà nội m/ua nhà trong thành, cả gia đình dọn vào phố thị. Cuộc sống yên ổn, Trần Thị nảy ý định tìm lại Nhị Tiểu, nhưng bị bà nội cự tuyệt. "Biết nó còn sống là đủ". Thực ra bà nội từng gặp Nhị Tiểu một lần. Hồi ấy nhà đã mở cửa hàng, Nhị Tiểu theo mẹ ruột đến m/ua đồ, người đàn bà nhận ra bà nội, nhân lúc ông nội đang chọn hàng cho Nhị Tiểu, liền lén nói với bà nội nếu muốn nhận lại thì họ cũng bằng lòng. Những năm đói kém trước kia, dù nhà còn bao nhiêu lương thực, họ đều dành một nửa mang biếu gia đình này. Lo/ạn lạc thời ấy, người thành thị không như nông thôn, còn chút lương thực dự trữ. "Chúng tôi chỉ nuôi một đứa trẻ, nhưng nhà người đã c/ứu cả gia đình chúng tôi, nếu không có các người, cả nhà chúng tôi đã ch*t đói..." Bà nội không đồng ý, chỉ từ đó mỗi năm nhân dịp tảo m/ộ, cho Nhị Tiểu đến trước m/ộ nhị phường lạy tạ đ/ốt vàng. Chưa được mấy năm, bà nội nghe tin nhà đại phường cũng trở về. Bà nội đưa cô về thăm làng. Trước hết đưa hai mươi lạng bạc cho nhà đại phường, cảm tạ họ đã chăm sóc cô suốt năm năm, sau đó cô cầm cây sào tre mang theo, đ/á/nh túi bụi vào người dì, cậu và em họ. Bà nội bảo ân oán không thể bù trừ, không thể chỉ báo ân mà không trả th/ù, càng không thể chỉ trả th/ù mà không báo ân.
Ta chào đời năm bà nội bốn mươi sáu tuổi, là đứa con đầu lòng của cha ta tức Lộ Sinh, khi ấy cô đã thành thân, gả cho Hiệu úy trong quân doanh. Vị Hiệu úy cao lớn trước người cô nhỏ bé tỏ ra rất ngoan ngoãn, người đời bảo vị Hiệu úy mặt lạnh chỉ có cô mới trị được. Cô rất vui mừng trước sự ra đời của ta, vì bà nội do thể chất không sinh được con gái cho cô. "Mẹ xem, nhà ta cuối cùng cũng có thêm con gái rồi!" Bà nội cũng rất yêu quý ta, từ nhỏ ta đã được bà ẵm trong lòng, nghe bà kể chuyện ngày xưa. Ta lớn lên trong sự nuôi dạy của bà, nhưng tính cách lại chẳng giống bà. Cha từng lấy làm lạ, nhưng bà nội không để tâm, bà xoa đầu ta nói: "Không giống ta mới tốt". Câu nói ấy ta phải mất nhiều năm mới thấu hiểu.
Nhờ có bà nội, sau này gia đình đã bám rễ nơi phố thị. Bác cả và cha đều có chí, chi nhánh cửa hiệu mở khắp thành, bác cả còn đem buôn b/án đến kinh thành, chỉ có cha và cô ở lại hầu hạ bà nội. Năm bà bảy mươi tuổi, Trần Thị và ông nội đã qu/a đ/ời. Một buổi sáng, bà nội bảo ta, bà mơ thấy ông nội dắt một cậu bé đầu có bướu đứng cười với bà. Tối hôm ấy dùng cơm xong, bà nội bảo buồn ngủ muốn nghỉ một lát, giấc ngủ ấy đã vĩnh viễn không tỉnh lại. Trong tang lễ, bác cả từ kinh thành về chịu tang, ta cũng được gặp vị "Nhị Tiểu" trong lời kể của bà. Giờ ông đã là viện trưởng thư viện trong thành, quỳ trước qu/an t/ài dập đầu ba cái thật mạnh. Bà nội không còn nữa, nhưng ta vẫn kể chuyện bà cho các con nghe.