Trong tiệm nghỉ lễ một ngày, các cô gái vây quanh ta, cùng nhau lên chùa Quan Âm tạ thần. Chỉ là, trong lúc mơ hồ giữa đám đông, ta chợt thấy bóng dáng quen thuộc. Ta tưởng mắt mình hoa lo/ạn, người đông như nêm cối, qua lại như ngựa xem hoa, hắn vốn đang an nhiên tại kinh thành làm quan lớn, ắt hẳn là nhìn lầm vậy.
Theo lệ cũ, tượng Quan Âm phải ở lại chùa một đêm, ta đành lưu lại nơi này. Đêm xuống khi mọi người giải tán, ta cùng các sư thái trong chùa làm bạn, cùng dùng cơm chay, ra sau núi dạo bước. Sư thái Du Lâm đi cùng ta, dạo bước trên con đường núi nhỏ, gió thổi ào ào mặt, mát mẻ khoan khoái khó tả.
Sư thái bảo ta có duyên với Quan Âm, Bồ T/át ắt sẽ phù hộ ta thân thể khang thái, mọi sự như ý. Ta đáp rằng mình đã mãn nguyện lắm rồi, thuở xưa nhà nghèo, bữa no chẳng đủ, nhìn mẹ đ/au ốm mà chẳng xuất nổi bạc trắng chữa trị. Giờ đây không những có cửa hiệu riêng, làm điều mình thích, lại còn dư dả tiền bạc giúp đỡ dân làng, đó chẳng phải là phúc lành Bồ T/át ban ư?
Ánh chiều tà lan tỏa sau lưng, khe núi suối trong róc rá/ch, chim hót hoa thơm, tựa chốn bồng lai tiên cảnh. Trong lòng ta thầm khấn nguyện, c/ầu x/in Bồ T/át phù hộ phụ mẫu, lão gia phu nhân, Mãn Trụ Nguyệt Nhi, cả nhà bình an thuận lợi. À, còn phải bảo hộ thiếu gia thiếu phu nhân nữa, an lạc vui vẻ, năm tháng vô lo.
Sáng hôm sau, ta từ biệt sư thái xuống núi, cổng chùa vừa mở, đã thấy một người khoanh tay đứng đó, ánh dương từ sau lưng tỏa ra hào quang vạn trượng. Định thần nhìn kỹ, chẳng phải thiếu gia thì là ai?
Thiếu Gia Thiên
Ta nghĩ cuộc đời mình, khởi đầu từ năm mười hai tuổi. Năm ấy phụ thân bị cấp trên liên lụy, phủ Trần bị khám xét, cả nhà vào ngục, ta cùng phụ thân giam chung. Ban đầu vô cùng hoảng lo/ạn, thiếu niên mười mấy tuổi, trải qua biến cố lớn lao thế này, dù sao cũng sợ hãi. Ta tưởng phụ thân là quan văn, sẽ không chịu nổi cảnh lao tù, nhưng vị lão gia vốn quen sống nhung lụa ấy vẫn bình tĩnh trầm tĩnh như thường.
Không chỉ vậy, người còn dạy ta: "Quân tử phải giữ uy nghiêm kiên nhẫn, gặp đại nạn không sợ hãi, xem gươm đ/ao như không." Điều kiện sinh hoạt khỏi phải nói, từng quen nếp sống sung túc trong phủ, giờ đây như từ mây cao rơi xuống bùn lầy. Xưa ngủ nệm êm, nay nằm ổ rơm; xưa ăn sơn hào hải vị, nay chẳng thấy miếng thịt, phần lớn chỉ có cơm gạo cũ mốc. Dẫu vậy, phụ thân vẫn bảo ta giữ tâm tu thân, lặng chờ chuyển biến.
Tháng ngày trôi qua như thế, một đêm kia, chợt nghe tiếng khóc vẳng từ ngục nữ bên cạnh, dường như là tiếng Nguyệt Nhi. Trong lòng ta bỗng nôn nao, đi đi lại lại trong ngục thất, chỉ muốn liều mình vượt ngục, đưa phụ mẫu và muội muội thoát khỏi nơi này. Phụ thân vẫn không đổi sắc mặt, như thấu rõ lòng ta, nói rằng lao ngục canh phòng nghiêm ngặt, với chút võ công mọn mạy của ta, muốn phá cũi sổ lồng đã khó, huống chi đưa cả nhà ra ngoài, tuyệt đối không thể. Chi bằng tĩnh tâm dưỡng sức, chờ thời cơ.
Trong nỗi bồn chồn ấy, chúng ta gồng mình từ xuân sang thu, tuy có vài lần bị đưa ra thẩm vấn, nhưng quan tòa vốn có giao tình với phụ thân, hơn nữa phụ thân chưa nhận tội, cũng chưa bị cách chức, nên không bị tr/a t/ấn. Chúng ta chỉ bị giam giữ, mất tự do mà thôi.
Một ngày kia, ngục tốt bất ngờ thông báo sẽ áp giải chúng ta về kinh thành, do thánh thượng thân tự thẩm vấn. Ta cùng phụ thân nhìn nhau, đều im lặng không nói. Trải qua hơn nửa năm lao ngục, ta đã trầm tĩnh hơn nhiều. Miễn là thoát khỏi ngục tù, là phúc chẳng phải họa, cứ đi rồi sẽ biết!
Khi ra khỏi ngục, lính đóng gông xiềng chúng ta, đẩy đến trước ngựa, ta mới thấy mẫu thân. Mẫu thân g/ầy đi nhiều, nhưng thần thái vẫn điềm tĩnh, khiến ta yên lòng phần nào. Nhưng nhìn trái ngó phải, vẫn không thấy Nguyệt Nhi đâu, người đi cùng mẫu thân lại là thị nữ thân cận của nàng - Đồng Nhi.
Ta không rõ tình hình thế nào, ánh mắt nghi vấn hướng về mẫu thân, chỉ thấy bà khẽ lắc đầu. Ta hiểu ý mẫu thân, bà bảo ta đừng hỏi han gì cả.
Đi đến Vĩnh Lợi Châu, một đêm nọ, chợt có vệ sĩ ngầm trèo tường vào nhà. Phụ thân bảo ta, ông ngoại đã sai người đến c/ứu, bảo ta vận động gân cốt, chuẩn bị sẵn sàng.