Anh ta không cúi xuống nhặt.
Chỉ là một chấm đen nhỏ xíu, giữa trời đất xám trắng, như hạt bụi không thể bị gió cuốn đi.
Tôi quay đầu, hướng về phía trước.
Đường còn dài.
Nhưng tôi biết cuối con đường có ánh sáng.
11
Những ngày tháng ở trường Y tỉnh, là quãng thời gian vững vàng nhất trong hai kiếp người tôi cộng lại.
Tôi là học sinh có nền tảng kém nhất lớp, không có ai khác. Các bạn đều học qua cấp hai cấp ba sáu năm, còn tôi chỉ dựa vào một năm tự học. Buổi học giải phẫu đầu tiên, giáo viên nhắc đến "xươ/ng ức", cả lớp đều biết ở đâu, chỉ mình tôi giơ tay hỏi "xươ/ng ức là xươ/ng nào".
Có người cười.
Tôi không thấy x/ấu hổ.
Bốn mươi hai tuổi ch*t ngoài bãi tuyết mới đáng x/ấu hổ. Hỏi một điều không biết, không đáng hổ thẹn.
Tôi học như đi/ên. Người khác đọc một lần, tôi đọc năm lần. Người khác làm một đề, tôi làm ba đề. Sau khi ký túc xá tắt đèn, tôi kê ghế nhỏ ngồi hành lang, mượn ánh đèn hành lang đọc sách - ngọn đèn ấy sáng gấp mười lần đèn dầu nhà tôi, tôi cảm thấy mình xa xỉ đến khó tin.
Thi cuối kỳ, tôi đứng thứ bảy toàn lớp.
Không phải nhất. Nhưng với một người một năm trước còn không đọc thông viết thạo, thứ bảy đã là kỳ tích.
Học kỳ hai, thứ ba.
Học kỳ ba, nhất.
Từ đó không bao giờ tụt nữa.
Giáo viên gọi tôi vào văn phòng, hỏi: "Tống Mạch Tuệ, em học những thứ này thế nào?"
Tôi nghĩ một lát: "Người từng đói khát, thấy lương thực sẽ không buông tay."
Ba năm trường Y, tốt nghiệp tôi được giới thiệu vào bệ/nh viện huyện.
Năm 1980. Tôi hai mươi hai tuổi.
Từ cô gái tuyệt tự làng Tống, trở thành nhân viên chính thức bệ/nh viện huyện.
12
Làm ở bệ/nh viện huyện năm năm.
Tôi thi đậu bác sĩ chủ trị, trẻ nhất viện. Không phải vì thiên tài, mà vì cố gắng hết mình. Hai kiếp người dạy tôi một đạo lý: Trên đời không có thứ gì tự đến, mọi thứ mình muốn đều phải tự giành lấy.
Mùa thu 1985, huyện tổ chức đại hội biểu dương cá nhân tiên tiến toàn huyện. Tôi được bầu vì dẫn đầu đội khám bệ/nh tình nguyện về nông thôn.
Hôm nhận giải, dưới khán đài ngồi đại diện các đơn vị toàn huyện.
Khi tôi bước lên bục nhận giấy khen, có một đôi mắt dưới khán đài không rời khỏi tôi.
Trần Hướng Đông.
Anh ta cũng đến. Giờ anh làm giáo viên thỉnh giảng tiểu học trong làng, có lẽ được cử đến dự thính.
Mười năm không gặp.
Anh ta già đi. Chưa đến ba mươi mà tóc mai đã điểm bạc. Lưng hơi khom, mặc chiếc áo sơ mi vải xanh đã bạc màu.
Tan hội, anh ta chặn tôi lại.
"Mạch Tuệ."
Giọng anh gọi tên tôi vẫn như mười năm trước. Nhưng con người đã khác.
"Hướng Đông. Lâu lắm không gặp."
"Em... em vẫn khỏe chứ?"
"Tôi ổn."
Anh ta nhìn tấm huy hiệu cá nhân tiên tiến trên ng/ực tôi, môi chớp động.
"Anh cũng thi mấy lần." Giọng anh nhỏ như tự nói, "Đều trượt. Sau này không thi nữa. Về dạy ở trường làng."
Tôi im lặng.
Anh nhìn tôi một lúc, bỗng cười. Không phải nụ cười thật, chỉ là khóe miệng nhếch lên.
"Ừ. Thế... cũng tốt."
Anh quay đi.
Đi được vài bước, lại dừng.
"Mẹ anh năm ngoái mất rồi. Lúc đi có nói một câu."
Giọng anh nghẹn lại, vọng tới.
"Bà nói, 'Điều hối h/ận nhất đời này, là không cưới được Tống Mạch Tuệ về làm dâu.'"
Nói xong, anh không ngoảnh lại, bước đi.
Không cưới được tôi về.
Lưu Thúy Lan đến ch*t vẫn không nghĩ mình sai ở "lừa hôn nhân". Bà ta cho rằng mình sai ở "lừa không thành".
Tôi đứng nguyên chỗ, nhìn bóng anh khuất sau đám đông.
Không phải chế nhạo, mà là một nỗi ngậm ngùi khó tả.
Đời người, thứ khó thay đổi nhất không phải số phận, mà là cái đầu.
Tôi tưởng đó là hình ảnh cuối cùng của Trần Hướng Đông trong đời mình.
Nhưng không.
Mùa xuân 1987, tôi trực đêm ở bệ/nh viện huyện.
Hai giờ sáng, khoa cấp c/ứu đưa vào một người phụ nữ.
Toàn thân đầy thương tích. Mặt sưng biến dạng, mắt trái bầm tím, hai cánh tay chi chít vết bầm mới cũ chồng chất - vết cũ chưa lành, vết mới đã đ/è lên. Nặng nhất là xươ/ng sườn, g/ãy hai chiếc.
Tôi nhận ra loại thương tích này.
Không phải ngã, không phải va đ/ập.
Là bị đ/á/nh.
Đánh liên tục, dài ngày, đ/á/nh đến ch*t.
Khi khám cho cô ấy, cô không nói gì. Tôi hỏi tên, cô mấp máy môi mãi mới thốt ra vài từ.
"Châu... Châu Tú Trân."
"Ai đ/á/nh chị?"
Cô không trả lời. Mắt nhìn trần nhà, ánh mắt trống rỗng, tê liệt, như linh h/ồn đã lìa khỏi x/á/c.
Tôi từng thấy ánh mắt này.
Trong gương thấy.
Kiếp trước của tôi cũng có ánh mắt như vậy.
"Chồng chị đ/á/nh?" Tôi đặt tập bệ/nh án xuống, ngồi xổm ngang tầm cô.
Đôi mắt cô cuối cùng cũng động đậy, nhìn tôi.
Rồi cô run run gật đầu.
"Tên hắn là gì?"
"... Trần Hướng Đông."
Tay tôi khựng lại.
Châu Tú Trân.
Vợ Trần Hướng Đông.
Chính là cô gái bà Lý từng nói với tôi - người anh ta sau này cưới, "ở Lưu Gia Câu bên kia núi, hiền lành chất phác, ít nói".
Tôi nhìn cô.
Khuôn mặt sưng không nhận ra nguyên hình, mái tóc rối bù bị gi/ật x/é, móng tay đen xỉn - dấu hiệu suy dinh dưỡng lâu ngày.
Cô trẻ hơn tôi hai tuổi, nhưng trông già hơn tôi cả chục tuổi.
Tôi chợt nhớ một chuyện.
Kiếp trước, tôi cũng từng nằm trên giường bệ/nh này. Không phải bệ/nh viện này - kiếp trước tôi không đủ tư cách vào bệ/nh viện huyện - mà là trạm xá làng. Tôi nấu cơm mặn, bị t/át một cái trúng tai. Tai tôi ù đi ba ngày. Trần Hướng Đông có biết không?
Biết.
Anh ta nói gì nhỉ?
— "Lúc anh biết thì đã muộn rồi."
Tôi cầm điện thoại, gọi cho hội phụ nữ.
Hôm sau, tôi cùng cán bộ hội phụ nữ về làng Tống.
Trần Hướng Đông đứng trước cổng nhà, khi thấy tôi, biểu cảm trên mặt như bị t/át.
Không phải vì hối h/ận.
Mà vì anh ta chưa từng nghĩ, một ngày Tống Mạch Tuệ sẽ đứng trước cửa nhà mình với tư cách "bác sĩ bệ/nh viện huyện" và "nhân viên hội phụ nữ", đòi công lý cho vợ anh ta.
"Mạch Tuệ, em—"
"Đồng chí Trần Hướng Đông." Tôi ngắt lời anh, "Vợ đồng chí là Châu Tú Trân nhập viện do bạo hành gia đình, g/ãy hai xươ/ng sườn, nhiều vết bầm mô mềm toàn thân."