Hắn không biết vợ mình đã bế con gái rời đi từ lúc bốn giờ sáng.
Hắn cũng chẳng cần biết.
Hắn đã có Chu Mẫn hầu hạ canh nóng, sao chép tài liệu, đỡ đò/n thay trên hội trường.
Hắn không cần tôi nữa.
Vậy thì cứ như hắn mong muốn.
---
2
Ga tàu nằm ở phía đông thành phố.
Tôi bế con gái đi bộ bốn mươi phút.
Ga tàu năm 83 không lớn như sau này, chỉ vài dãy nhà cấp bốn với sân ga lộ thiên. Cửa b/án vé mở cửa lúc năm rưỡi, khi tôi đến đã có hơn chục người xếp hàng.
Chuyến tàu đi phương Nam khởi hành lúc bảy giờ hai mươi.
Tôi m/ua hai vé ngồi cứng - đi Quảng Châu. Từ Quảng Châu đổi xe khách sang Thâm Quyến, phải ngồi thêm cả ngày trời.
Giá vé không rẻ, hai người hết hai mươi bảy tệ sáu hào. Tôi đếm tiền ba lần, nắm ch/ặt vé trong tay.
Phòng chờ ga ngập mùi th/uốc lào và mì gói. Người ngồi bệt dưới đất, kẻ dựa vào hành lý chợp mắt.
Trần Niệm ngồi trên đùi tôi, gặm ổ màn thầu mang từ nhà ra, đôi mắt lấm lét nhìn quanh.
"Mẹ ơi, mình đi đâu thế?"
"Vào Nam."
"Nam xa không?"
"Xa."
"Bố có đi không?"
Tôi im lặng giây lát.
"Bố bận."
"Bố lúc nào cũng bận." Con bé cúi đầu tiếp tục gặm màn thầu, giọng điệu bình thản khác hẳn đứa trẻ sáu tuổi.
Bảy giờ mười, bắt đầu soát vé.
Tôi bế con hướng về sân ga, đúng lúc có người gọi gi/ật lại.
"Hòa Hòa?"
Tôi quay đầu.
Là Vương Thẩm. Bà xách làn rau, có lẽ vừa đi chợ sớm về, đi ngang ga thấy tôi.
"Cháu đây là..." Bà nhìn đứa bé trong tay tôi, lại nhìn chiếc túi vải trên vai, ánh mắt đổi khác.
"Cháu đi thăm họ hàng."
"Thăm họ hàng? Mang cả Niệm Niệm? Sớm thế?"
"Ừ."
Bà nhìn tôi hồi lâu, không hỏi thêm.
Nhưng đột nhiên bà nắm lấy cánh tay tôi, nhét vào lòng bàn tay năm quả trứng.
"Đường xa cho Niệm Niệm ăn."
Mắt bà đỏ hoe.
Tôi biết bà hiểu hết. Vương Thẩm ở cạnh nhà tôi tám năm, có chuyện gì bà chẳng thấu.
"Hòa Hòa," giọng bà hạ thấp, "cuộc đời là của mình."
Tôi gật đầu, quay người lên tàu.
---
Toa tàu màu xanh lá chật cứng người, ghế cứng là loại ván gỗ dựng đứng. Lối đi chất đầy hành lý và bao tải dứa, có người mang lồng gà lên tàu, kẻ ôm bọc hàng cao ngang người.
Không khí lẫn lộn mùi mồ hôi, khói th/uốc và dưa muối.
Tôi đặt con gái ngồi trên đùi, tựa lưng vào cửa sổ.
Khi tàu chuyển bánh, sân ga dần lùi lại phía sau.
Tôi nhìn thành phố đã sống hai mươi sáu năm qua khung cửa sổ - những tòa nhà xám xịt, ống khói nghi ngút, dòng người đạp xe đạp cũ kỹ đi làm.
Ống khói lớn nhà máy dệt vải từ đằng xa nhả khói trắng, như ngón tay xám xịt chọc lên đường chân trời.
Tôi làm việc ở đó tám năm. Tám năm làm ba ca, thời gian đứng nhiều hơn ngồi, chai sạn trên tay nhiều hơn nụ cười trên mặt.
Nhưng giờ chẳng quan trọng nữa.
Tàu qua ngoại ô, ngoài cửa sổ trải dài cánh đồng lúa mạch. Tháng tư lúa mạch đã xanh lại, gió thổi qua, sóng xanh dập dờn.
Trần Niệm dán mặt vào cửa sổ ngắm cảnh, khuôn mặt nhỏ đầy hào hứng.
"Mẹ ơi! Đồng rộng quá!"
"Ừ."
"Rộng hơn cả bồn hoa trước nhà mình!"
"Rộng hơn gấp vạn lần."
"Thế nhà máy của bố thì sao? Có lớn hơn không?"
Tôi không trả lời.
Con bé cũng không hỏi thêm, nhanh chóng bị cảnh vật mới thu hút - đàn bò đang uống nước bên sông, ông lão chăn bò đội nón lá thong thả bước đi.
Thời gian trên tàu trôi chậm rãi.
Tôi lấy từ túi xách ra tờ thông báo tuyển dụng, đọc lại lần nữa.
"Ủy ban quản lý khu công nghiệp Xà Khẩu, Thâm Quyến", tiêu đề đỏ chói, con dấu màu xanh dương.
Năm 1980 Thâm Quyến mới được lập đặc khu kinh tế.
Trước đây tôi từng đọc trên báo Quang Minh Nhật Báo bài viết nói khẩu hiệu khu Xà Khẩu là "Thời gian là tiền bạc, hiệu suất là sinh mệnh". Trần Hoán Sinh xem xong lắc đầu, bảo đó là chủ nghĩa tư bản, không tồn tại lâu được.
Nhưng tôi không nghĩ vậy.
Tôi làm công nhân đứng máy tám năm trong nhà máy, không phải không biết gì. Tôi hiểu số lượng sợi, hiểu model máy dệt, hiểu quy trình kiểm soát chất lượng, hiểu kế hoạch sản xuất.
Lô máy dệt Nhật nhập về năm 81, sách hướng dẫn toàn tiếng Nhật, cả nhà máy không ai đọc được. Là tôi chạy đến thư viện tỉnh mượn từ điển tiếng Nhật, dịch từng chữ một.
Bản dịch nộp lên, ký tên trưởng phòng phân xưởng.
Trưởng phòng vỗ vai Trần Hoán Sinh: "Cậu có phúc lắm, lão Khương gả con gái cho cậu coi như giao nửa phân xưởng."
Trần Hoán Sinh cười cười, không đáp lại.
Về nhà hắn cũng chẳng nhắc đến chuyện này.
Tôi biết hắn không quên, hắn chỉ cho rằng - chuyện đó không đáng nói.
Đàn bà dịch được mấy trang hướng dẫn, có gì đáng nói?
Nhưng tôi biết đó là bản lĩnh.
Tôi không học đại học, nhưng bố tôi dạy: nghề không phân nam nữ, trí tuệ không chia sang hèn.
Những năm qua tôi không phải không nghĩ đến việc ra đi.
Nhưng tôi đi rồi, ai giặt đồ cho Trần Hoán Sinh? Ai nấu cơm? Ai trông con?
Hắn đi học đêm ai chép bài thay? Hắn viết báo cáo ai tra tài liệu giúp? Hắn tiếp khách ai thu xếp việc nhà chu toàn?
Tôi sợ hắn không sống nổi nếu thiếu tôi.
Nhưng sau này tôi phát hiện, hắn thiếu tôi, đã có Chu Mẫn.
Vậy tôi còn ở lại làm gì?
Người hầu canh nóng đã có, người sao chép tài liệu đã có, người đỡ đò/n trên hội trường đã có.
Tôi moi ruột móc gan, nhồi nhét vào cuộc đời hắn.
Giờ hắn đã no đủ, tôi trống rỗng.
Vậy nên phải đi thôi.
---
Tàu đến Quảng Châu lúc xế chiều hôm sau.
Ba mươi mấy tiếng ngồi cứng, lưng tôi đ/au không thẳng nổi. Trần Niệm ngược lại còn sung sức, suốt đường học được ba bài đồng d/ao từ ông lão ngồi cạnh, còn nhận biết hai chữ mới.
Ga Quảng Châu lớn gấp mười lần nơi chúng tôi. Cửa ra vào người đông như kiến, đủ các thứ phương ngôn, người người vác bao lớn bao nhỏ ùn ùn đổ ra.
Không khí nồm ẩm như nồi hấp, vừa ra khỏi ga tôi đã ướt đẫm mồ hôi.
"Mẹ ơi, nóng quá." Trần Niệm kéo cổ áo, mặt đỏ bừng.