Gió thu thổi qua, xào xạc.
Con đường này tôi đã đi mười mấy năm. Từ khu nhà tập thể đến cổng nhà máy, đi xe đạp tám phút, đi bộ hai mươi phút.
Sau này chiếc xe đạp nhường cho Trần Hoán Sinh, ngày nào tôi cũng đi bộ.
Đi sáu năm ròng.
Giờ bước lại con đường ấy, cảm giác ngắn hơn xưa.
Có lẽ đường không đổi, là chân tôi dài ra.
Khu nhà tập thể phía sau nhà máy dệt vẫn chưa bị phá. Từng dãy nhà xám xịt cũ kỹ, như lũ già nua co cụm sưởi ấm.
Đèn hành lang hư quá nửa, tối om. Lớp vữa bong tróc, lộ ra viên gạch đỏ bên trong. Cầu thang chất đầy đồ linh tinh - than tổ ong, báo cũ, thùng giấy rá/ch.
Tôi vịn tay vịn leo lên tầng ba.
Phòng 302.
Cánh cửa vẫn y nguyên. Cửa gỗ sơn xanh, lớp sơn bong tróc lộ ra thớ gỗ bên dưới. Tay nắm cửa bằng sắt đã han gỉ.
Tôi đứng trước cửa, nghe thấy tiếng động bên trong.
Không phải tiếng nói chuyện, mà là tiếng radio. Lạo xạo, tín hiệu không tốt, cố gắng lắm mới nhận ra đang phát tin tức.
Tôi giơ tay gõ cửa.
Tiếng radio vẫn vang, nhưng bên trong đột nhiên im bặt.
Rồi đến tiếng lê dép lệt xệt trên nền nhà.
Cửa mở.
Trần Hoán Sinh đứng trong khung cửa.
Anh mặc chiếc áo thu cũ bạc màu, cổ áo chùng xuống lộ xươ/ng quai xanh. Phía dưới là chiếc quần xám nhàu nát, đầu gối đã sờn vải.
Chân đi đôi dép nhựa, quai dép bên trái đ/ứt được buộc tạm bằng dây thép.
Tóc anh bạc trắng.
Không phải hoa râm, mà trắng xóa. Người đàn ông 44 tuổi, tóc đã bạc hết.
Nếp nhăn sâu hoắm, gò má nhô cao, hốc mắt trũng sâu. Cả người khô đét như chiếc áo bị vắt kiệt nước.
Khi thấy tôi, anh đờ người ra.
"Hòa... Hòa Hòa?"
Tôi nhìn anh, nhìn người đàn ông này.
Mười bốn năm trước anh mặc chiếc sơ mi trắng tôi là phẳng, thắt cà vạt, tóc bóng keo, đứng trên bục đọc diễn văn nhậm chức đầy khí thế.
Giờ anh mặc áo thu rá/ch, đi dép nhựa nát, tóc bạc trắng, đứng sau cánh cửa gỉ sét.
Anh nhìn tôi, môi run run hồi lâu, thốt lên câu:
"Con... con về rồi à?"
Câu này, với câu "Con về đi" anh muốn nói mười bốn năm trước, chỉ khác một chữ.
Nhưng cách cả một đời người.
"Tôi đi ngang qua." Tôi nói, "Vào ngồi chút."
Anh gi/ật mình, vội vàng né người nhường lối.
Căn phòng chật hẹp, vẫn bố cục cũ của nhà tập thể - một phòng vừa làm phòng khách vừa làm phòng ngủ, bếp nhỏ, nhà vệ sinh công cộng cuối hành lang.
Nhưng tiêu điều hơn hồi tôi ở đây nhiều.
Giấy dán tường đã ố vàng bong góc, bếp dính lớp mỡ dày, bồn rửa ngập bát đĩa chưa rửa. Chăn trên giường đơn vắt vẻo, gối xám xịt.
Góc phòng đặt chiếc radio cũ kỹ, vẫn kêu xào xạc.
Còn một thứ nữa.
Tủ ngăn kéo.
Vẫn chiếc tủ ngăn kéo ấy. Hồi tôi đi nó đã ở đó, mười bốn năm rồi, chưa dịch chuyển.
Trên tủ đặt một tấm ảnh.
Là ảnh cưới của chúng tôi.
Chụp năm 1975, đen trắng. Anh mặc đồ Trung Sơn, tôi mặc sơ mi trắng, hai người ngồi thẳng tắp, nét mặt gượng gạo nhưng ánh mắt rạng rỡ.
Góc ảnh đã cong queo, nhưng được lau rất sạch.
Bên cạnh còn một tấm khác - ảnh Trần Niệm lúc ba tuổi chụp ở công viên. Tóc tết hai bím, cười để lộ hai chiếc răng cửa.
Hai tấm ảnh này là thứ duy nhất sạch sẽ trong căn phòng.
Anh theo tôi vào, bối rối không biết đặt tay đâu.
"Con ngồi đi, ngồi đi. Anh đi pha nước..." Anh quay vào bếp, làm đổ cái ly, cúi xuống nhặt, tay run lẩy bẩy.
"Không cần đâu." Tôi ngồi xuống chiếc ghế cũ. Chân ghế hơi lung lay, vốn đã lung lay từ trước, tôi đã bảo anh sửa mấy lần mà anh chẳng chịu.
Mười bốn năm rồi, vẫn chưa sửa.
Anh đứng nơi cửa bếp, tay nắm ch/ặt chiếc cốc sứt mẻ, lớp men tróc hết nửa, lộ ra lớp sắt bên trong.
"Hòa Hòa, dạo này... con có khỏe không?"
"Cũng tạm."
"Thế Niệm Niệm?"
"Đang học Bắc Đại. Khoa ngoại ngữ."
Đôi mắt anh chợt sáng lên, rồi nhanh chóng vụt tắt.
"Bắc Đại... tốt, tốt lắm."
Anh đặt chiếc cốc lên bàn, trong cốc là nước trắng.
"Nhà hết trà rồi..." Anh nói nhỏ như xin lỗi.
Ngày trước anh chê trà tôi pha không ngon.
Giờ anh chẳng còn nổi lá trà.
Tôi không uống nước.
Căn phòng chìm vào im lặng. Tiếng radio vẫn xào xạc, phát thanh viên đang đưa tin về sự kiện Hồng Kông trở về.
"Hoán Sinh." Tôi lên tiếng.
Anh gi/ật mình, ngẩng lên nhìn. Mắt đã đỏ hoe.
"Anh không thể sống mãi thế này được."
Anh cúi đầu, im lặng.
"Nhà máy đóng cửa, nhưng anh còn trẻ. Bốn mươi tư, còn làm được nhiều việc."
Anh cười khổ.
"Làm được gì? Anh chỉ biết kéo sợi dệt vải."
"Thì học nghề khác. Ngày xưa anh cũng từng là thợ học việc mà?"
Anh lắc đầu.
"Hòa Hòa, anh không như con. Con có năng lực, có dũng khí. Anh không có."
Tôi nhìn anh.
Đây là câu nói chân thật nhất anh từng thốt với tôi.
Ngày trước anh không bao giờ thừa nhận tôi giỏi hơn anh. Trong nhận thức của anh, tôi là công nhân, anh là giám đốc. Tôi là vợ, anh là trụ cột.
Anh mất mười bốn năm để cuối cùng thừa nhận sự thật -
Anh không bằng tôi.
Nhưng sự thật này đã muộn màng.
"Trần Hoán Sinh, hôm nay tôi đến không phải để ôn chuyện xưa."
Anh ngẩng mặt lên.
Tôi lấy từ túi ra phong bì, đặt lên bàn.
"Cái gì thế?"
"Ba vạn."
Mặt anh biến sắc.
"Con—"
"Không phải bố thí." Tôi nói, "Của Niệm Niệm gửi. Nó dành dụm. Nó làm phiên dịch ở trường, dành dụm tiền nhuận bút hai năm. Nó bảo tôi đưa cho anh, nói là... tiền sinh hoạt phí cho bố."
Anh đờ người ra.
Rồi nước mắt anh lăn dài.
Không phải kiểu đỏ mắt nghẹn ngào lúc gặp tôi ở phòng khách Xà Khẩu.
Là thứ nước mắt lặng lẽ, từng giọt lớn lăn theo nếp nhăn sâu hoắm.
Anh không với lấy phong bì.
Anh úp mặt vào lòng bàn tay, vai r/un r/ẩy dữ dội.
Tôi ngồi đó, nhìn anh khóc.
Không an ủi.
Không phải nhẫn tâm. Là tôi biết, có những giọt nước mắt phải tự mình rơi hết.