Bố tôi cũng không hiểu.
Mấy ngày sau, bố đi hỏi thăm người cô họ xa ở huyện lỵ mới biết.
KFC không phải là gà, mà là một cửa hàng rất cao cấp, ngay cả huyện cũng không có, chỉ ở tỉnh lỵ mới có.
Bố không nói gì với chúng tôi. Hôm sau, ông dậy từ tờ mờ sáng, đổi mấy chuyến xe, ngồi bốn năm tiếng đồng hồ lên tận tỉnh.
Bố tìm được cửa hàng, m/ua một phần gia đình ôm ch/ặt trước ng/ực.
Vì đã tiêu hết tiền xe, trên đường từ huyện về làng, bố không nỡ đi xe nữa.
Trời tối đen như mực, một mình ông lần theo quốc lộ đi bộ về.
Đến quá nửa đêm, một chiếc xe lao tới, tài xế không nhìn thấy ông.
Bố bị xe tông văng.
Hôm sau, người ta phát hiện ông nằm trong ruộng dứa bên đường.
Đầu đầy m/áu, người cứng đờ, tưởng đã ch*t.
Báo cảnh sát, đưa vào viện.
Tính mạng giữ được.
Nhưng trí óc không còn nguyên vẹn.
Phần gà gia đình văng ra đường, nắp hộp bật mở, cánh gà lăn lóc dính đầy đất.
Đến tận hôm nay, em trai tôi vẫn chưa từng được nếm KFC.
Nó bắt đứa hàng xóm tên Mao đ/á/nh một trận tơi bời.
Đến giờ, nó vẫn gh/ét cay gh/ét đắng nhà đó.
6
Tôi nhớ mỗi dịp Tết đến, bố lại đưa cả nhà lên huyện.
Ngày mùng 5 Tết, người huyện biểu diễn trò dân gian.
Chúng tôi dậy từ lúc trời chưa sáng.
Mẹ quấn hai chị em tôi thành hai cục bông, bố bơm căng lốp xe ba gác, lót một lớp rơm dưới thùng xe, trên rơm lại trải chiếu bông.
Ba mươi dặm đường đất, bố đạp hơn một tiếng đồng hồ.
Trò dân gian đẹp lắm.
Người đi cà kheo, mặt tô đỏ trắng loang lổ, lảo đảo tiến lên. Kẻ đóng vai búp bê đầu to, cái đầu tròn vo, nghiêng ngả khiến lũ trẻ la hét.
Có đứa trẻ mặc trang phục đỏ xanh, bị trói trên cây sào cao, từ trên đầu đám đông từ từ trôi qua, như tiên nữ giáng trần.
Tôi ngồi trên cổ bố.
Hai tay ông nắm ch/ặt cổ chân tôi, sợ tôi ngã xuống.
Em trai gào thét trong lòng mẹ.
"Con cũng muốn! Con cũng muốn!"
Bố ngẩng đầu nhìn tôi, lại nhìn em, cười khúc khích đặt tôi xuống, bế em lên.
Tôi bĩu môi gi/ận dỗi.
Bố nhìn tôi, lại nhìn em, bất lực cười.
Ông chuyển em sang vai trái, lại bế tôi lên đặt lên vai phải.
Bố xiêu vẹo bước đi, đỡ đứa này lại đỡ đứa kia, cổ vươn dài.
Mẹ đi phía sau, bụm miệng cười: "Hai đứa nhỏ nhà mình như gà chọi ấy."
7
Tối đó, chúng tôi ở nhờ nhà người cô họ xa ở huyện lỵ.
Cô là giáo viên, ở căn hộ do đơn vị phân phối.
Làng tôi nhà nào cũng ngủ giường đất, nhà cô ngủ giường, còn có sofa, bàn trà, tủ liền kệ.
Hồi ấy sang lắm.
Thứ khiến hai chị em tôi mê mẩn chính là bể kính góc phòng khách.
Trong đó nuôi cá vàng.
Con đỏ, con trắng, con đỏ trắng lẫn lộn, đuôi như váy lụa, bơi lội nhẹ nhàng.
Hai chị em tôi ngồi xổm trước bể, mũi gần dán vào kính, há hốc mồm nhìn.
Cô cười, bảo thích thì cứ đến chơi.
Bố đứng phía sau, nhìn chúng tôi, không nói gì.
Đêm đó, tôi trằn trọc không ngủ.
Lơ mơ nghe thấy tiếng nói bên giường, là bố, giọng trầm đặc.
Bố nói: "Cứ thế này mãi không ổn. Trồng lúa thì được cái gì. Xuân sang ấm áp, anh muốn đi Thâm Quyến làm thuê."
"Anh dò la rõ rồi. Bên Thâm Quyến mở nhiều nhà máy, làm dây chuyền sản xuất, vất vả thật nhưng trả tiền cao. Lão Trương hàng xóm, đi ba năm, năm nay về làng bằng xe Santana. Santana đấy, em thấy chưa?"
Mẹ vẫn mải móc đôi găng tay nhỏ cho chúng tôi.
Bố: "Nghe nói chưa? Nhà lão ta ba gian hai tầng. Chính tay hắn xây đấy."
"Anh thấy hắn cũng chẳng khôn hơn anh, anh còn chịu khó hơn nó mà."
"Sao anh lại không được?"
"Bố anh cày cả đời. Ngày mất, người vẫn trên ruộng ngô bẻ bắp. Bẻ được cái gì? Ba gian nhà đất."
"Anh cũng làm ruộng. Em xem anh làm được cái gì?"
"Lẽ nào để hai đứa nhà mình sau này cũng cày cuốc?"
Chiếc kim móc của mẹ dừng lại.
Bố nói: "Anh muốn hai con mình được ở căn hộ thế này, không phải thèm thuồng cá vàng nhà người ta."
"Anh muốn con gái đi học, học hết đại học, học đến mức không phải trông chờ vào việc lấy chồng, con trai cũng không phải xem trời mà ăn."
"Phải cho tụi nhỏ một tương lai."
Dưới ánh đèn vàng vọt, mẹ đặt chiếc kim móc xuống.
"Thế... thế nếu anh phát tài, anh không bỏ em chứ?"
Bố liếc mẹ một cái.
Ánh mắt kỳ quặc.
Ông không đáp.
Chỉ "khịt" một tiếng.
Nhưng sau đó bố cũng chẳng đi được Thâm Quyến.
Những lời đó, ông nói vào mùa đông trước khi xảy ra chuyện.
8
Bố tôi khôn lắm.
Dân làng trồng lúa mì, xay thành bột, đóng bao xếp trong kho.
Đợi lái buôn đi từng nhà thu m/ua, đến cổng mặc cả giá.
Người ta nói bao nhiêu thì trả bấy nhiêu.
Không b/án? Thì tiếp tục đợi.
Lúa mì sinh sâu, bột để lâu hết mới, không đợi nổi. Cuối cùng vẫn phải b/án giá đó.
Bố tôi không làm thế.
Ông đạp xe ba gác lên huyện.
Phố huyện ông không quen, cứ thế men theo từng con đường.
Thấy tiệm bánh hấp nào bốc khói, ông dựng xe, bước vào hỏi: "Chủ quán, bác m/ua bột ở đâu thế? Bao nhiêu một cân? Nhà cháu có bột mới xay, bác thử một bao xem sao?"
Người ta bận, không rảnh đâu.
Ông cũng không gi/ận. Hôm sau lại đi. Đổi quán khác.
Tiệm bánh bao, quán mì, căn tin trường học, nhà bếp công trường. Ông hỏi từng nhà, mời th/uốc từng người.
Về sau thực sự có người nhận hàng.
Lần đầu, năm bao bột. Ông vác lên vai, từ xe ba gác bê vào nhà bếp.
Người ta đếm tiền trả, ba mươi lăm đồng sáu.
Ông gấp tiền thành hình vuông nhỏ, nhét vào túi áo ng/ực, cài khuy cẩn thận.
Về sau, ông dành dụm được ít tiền, định đổi xe máy.
Xe ba gác đạp chậm, lên huyện mất hơn tiếng, chở được nhiều bao hơn.
Xe máy chạy xăng, đạp ga một cái, phành phạch, nửa tiếng đã tới nơi.
Rốt cuộc cũng không kịp m/ua.
Mấy hôm trước khi xảy ra chuyện, ông lên huyện rất chăm.
Có hôm về, dựng xe xong, ôm ra một thùng giấy lớn.
Thùng được bọc nilon, lớp trong lớp ngoài, trong suốt đục ngầu, quấn ch/ặt cứng.
Mẹ hỏi, m/ua gì thế?
Bố bảo, cho con gái.
Ông mở nắp thùng, bên trong xếp ngay ngắn tám cuốn sách.