Quân tiếp viện của Vệ Thanh Hà đến vào ngày hôm sau.
Vòng vây được giải tỏa.
Sau đó, Ôn Như Ngọc tới biên ải, mang theo một xe lụa là gấm vóc.
Khi hắn đứng trước cổng doanh trại, Cố Trường Phong chắn trước một ngôi m/ộ mới.
Trên bia m/ộ không khắc tên Thẩm Kiều Kiều, mà là "Thẩm Chiêu Chiêu".
Ôn Như Ngọc nói: "Ta có thể lại gần hơn chút được không?"
Cố Trường Phong không nhúc nhích, chỉ thốt một câu.
"Khi còn sống nàng đã thấy ngươi chướng mắt, trong thư có viết."
Ôn Như Ngọc đứng rất lâu, rồi quay người bỏ đi.
Khi đi qua chỗ tên lão binh c/ụt tay, hắn chẳng nói gì. Đợi xe ngựa đi qua, lão lấy bàn tay duy nhất quét từ từ con đường đất bánh xe vừa lăn.
Đó là con đường dẫn đến m/ộ nàng.
Lão không muốn dấu vết bánh xe lưu lại nơi ấy.
14
Về sau Cố Trường Phong trở thành đại tướng quân.
Cực phẩm công thần, công lao lẫy lừng. Không lấy vợ.
Thấy chưa, ta đã bảo hắn sẽ ở vậy mà.
Hắn trở nên ưa sạch sẽ, áo quần thay mỗi ngày, bùn đất trên hài không bao giờ để qua đêm.
Cái khuy áo, chiếc thứ ba bên trái, không bao giờ lệch nữa.
Lạ thật, ta chê bao lâu hắn chẳng sửa, ta đi rồi hắn lại đổi.
Cố ý đấy chứ.
Ôn Như Ngọc về kinh thành cưới một tiểu thư khuê các đoan trang hiền thục.
Cũng tốt.
Thúy Nhi về kinh, gả cho người thật thà, mở tiệm nhỏ, sống cuộc đời bình yên.
Nàng đặt tên con gái là "Chiêu Chiêu".
Về sau có người tu sửa phong hỏa đài Bắc Sơn, phát hiện trên cột có một dòng chữ khắc, ng/uệch ngoạc bằng đ/á, khắc rất sâu, từng nét đều dùng hết sức lực.
"Cố Trường Phong, hình như ta có chút thích ngươi. Nhưng ta không dám nói. Bởi nếu nói ra, ngươi sẽ không để ta đi nữa."
Hắn đến xem.
Đứng trước cột nhìn rất lâu.
Cười, rồi khóc.
Hắn nói: "Đồ ngốc. Ta cũng chẳng dám nói mà."
Nếu được trở lại, có lẽ ta vẫn sẽ không nói.
Bởi nói ra rồi thì chẳng còn giá trị gì nữa.
15
Từ biên ải đi về nam ba trăm dặm có trấn nhỏ tên Thanh Thủy, trấn không lớn, hai con phố, ba ngõ hẻm.
Trong trấn mới mở một tiệm vải, chưa được bao lâu đã nổi danh.
Không phải vì vải tốt, mà vì bà chủ tiệm tính khí kỳ quặc.
Chủ tiệm họ Lục, phụ nữ trẻ, không ai biết từ đâu tới.
Chê khách lựa vải làm bẩn tay, chê tiểu nhị gấp vải không ngay ngắn, chê con đường trước cửa không sạch, mỗi sáng phải tạt ba lần nước mới cho mở cửa.
Dân trấn đều sợ bà, trẻ con đi qua tiệm vải đều tránh xa.
Nhưng tiểu nhị trong tiệm ăn uống no đủ hơn nơi khác, ngày lễ tết còn có thịt, bà chủ bảo sợ họ đói g/ầy làm không nổi việc khiến bà mất mặt.
Mỗi mùa xuân, có người đàn ông cao lớn cưỡi ngựa tới trấn.
Rất cao, gương mặt lạnh lùng, xươ/ng lông mày cao, mắt sâu hoắm.
Giáp trụ giặt đến bạc màu, viền mài bóng loáng.
Hắn không vào tiệm, chỉ đứng trước cửa một lúc.
Bà chủ chống chiếc ô cũ ra m/ắng hắn chắn lối.
Chiếc ô ấy nửa phần ám khói, nửa còn lại lờ mờ hoa văn đào.
Hắn không cãi, chỉ đứng nhìn bà.
Bà m/ắng từ cái ô đến bộ giáp, từ bộ giáp đến đôi hài, từ đôi hài đến mái tóc.
"Ngươi không thể gội đầu rồi hãy tới sao? Cưỡi ngựa từ xa tới chỉ để cho ta thêm bực mình?"
Mỗi lần hắn đến, chiếc khuy áo thứ ba bên trái đều lệch.
Bà mỗi lần đều m/ắng cái khuy ấy.
"Lệch rồi, lệch rồi, ngươi cố ý đấy chứ?"
Hắn không nói.
Bà m/ắng xong, hắn đặt gói bánh nướng trên ngạch cửa, lên ngựa bỏ đi.
Bánh còn nóng, viền ch/áy xém một vòng.
Bà chạy ra cửa hét một câu.
"Lần sau đừng có tới nữa!"
Bà lần nào cũng hét vậy.
Hắn lần nào cũng vẫn tới.
Gió biên ải thật lớn.
Nhưng không sao.
(Hết)