Việc có người nấu cho tôi một bát mì tự nó đã vượt xa mọi định nghĩa của tôi về "ngon".
Chúng tôi ngồi bệt trên sàn phòng khách trống trơn, tựa lưng vào tường, ăn mì.
Ngoài cửa sổ là bầu trời đêm mùa đông, không một ngôi sao, nhưng ánh đèn đường lọt qua khe rèm vẽ lên bức tường trắng đối diện một vệt cam mảnh.
"Tống Dã."
"Ừ."
"Anh có thấy... thế này cũng ổn không?"
"Thế nào?"
"Như thế này." Hắn liếc nhìn xung quanh, căn phòng trống rỗng, hai bát mì, hai con người. "Chẳng có gì, nhưng dường như có đủ cả."
Tôi đặt đũa xuống, trầm ngâm suy nghĩ.
Kiếp trước tôi ch*t trên hành lang bệ/nh viện, ba mươi mốt tuổi, đ/ộc thân, không tài sản, không di ngôn, danh bạ toàn đồng nghiệp. Đám tang hẳn rất lạnh lẽo, nếu có ai tổ chức.
Kiếp này tôi ngồi trên sàn phòng khách trống trơn, bên cạnh có một người, trước mặt là bát mì hắn nấu, miếng dán theo dõi ở cổ tay nhấp nháy đèn xanh, trong túi có mẩu giấy ghi "thịt kho tàu cũng được".
"Ừ," tôi nói, "ổn đấy."
Hắn đưa tay ra, nắm lấy tay tôi.
Không phải kiểu siết ch/ặt như ch*t đuối trong phòng trị liệu, cũng chẳng phải cách đặt tay x/á/c nhận như dưới rừng bạch quả.
Chỉ đơn giản là nắm lấy.
Lỏng lẻo, ấm áp, ngón tay đan vào nhau, lòng bàn tay áp sát.
Như thể bàn tay này vốn dĩ phải thuộc về nơi đây.
Tôi không rút tay lại.
Đèn đường ngoài cửa sổ sáng suốt đêm.
Về sau chúng tôi m/ua sắm đồ đạc, m/ua nồi niêu xoong chảo, tủ lạnh dần đầy thức ăn. Tài nấu nướng của Bùi Trưng tiến bộ đều đặn, từ mì nước trong chuyển sang mì trứng cà chua, rồi từ mì trứng cà chua lên tới thịt kho tàu.
Thịt kho tàu làm cũng tàm tạm, thịt hơi dai, màu đường lên không đều.
Nhưng lần nào tôi cũng ăn sạch.
Lần nào hắn cũng hỏi "thế nào", lần nào tôi cũng đáp "ngon".
Một ngày nọ, hắn cuối cùng thốt lên: "Anh không cần lúc nào cũng nói ngon đâu, em biết mình nấu chưa tốt."
"Thực sự chưa giỏi, nhưng có tiến bộ."
"Anh có thể góp ý."
"Bớt xì dầu, lửa nhỏ hơn, hầm lâu thêm chút."
"Không phải anh bảo không biết nấu ăn sao?"
"Tôi không biết nấu, nhưng biết ăn."
Hắn liếc tôi một cái, hôm sau miếng thịt kho tàu rõ ràng ngon hơn hẳn.
Ngày tháng trôi qua như thế.
Sáng nào hắn cũng dậy lúc sáu giờ, trước khi ra ngoài sẽ đặt bữa sáng lên bàn. Tôi dậy lúc bảy giờ, ăn xong rồi đến bệ/nh viện. Buổi chiều đôi khi hắn đến, đôi khi không. Khi đến vẫn ngồi trên "chiếc ghế của hắn", xem hồ sơ hoặc thẫn thờ. Khi không đến sẽ nhắn tin, nội dung từ "ăn cơm chưa" dần phong phú thành "hôm nay nhà ăn có sườn xào chua ngọt" hoặc "tối nay muốn ăn gì".
Tối cùng về nhà - đúng vậy, giờ đã là "nhà" rồi - cùng ăn cơm, cùng dọn dẹp, rồi mỗi người làm việc của mình. Hắn xem báo cáo quân sự, tôi đọc tài liệu y khoa.
Thi thoảng trao đổi vài câu, phần lớn thời gian im lặng.
Giống hệt lúc ở văn phòng.
Nhưng khác ở chỗ, trong sự im lặng này có thêm nhiều âm thanh.
Tiếng máy hút mùi xào nấu, tiếng nước chảy rửa bát, tiếng lật giấy khi hắn xem hồ sơ, tiếng lách cách bàn phím của tôi.
Những ngày tháng như thế chẳng có gì đáng để viết, đơn điệu như nhật ký, nhạt nhẽo tựa nước lọc.
Nhưng kiếp trước tôi uống nước lọc ba mươi mốt năm, chưa từng thấy nó có vị gì.
Giờ thì có rồi.
Chắc tại cái cốc đã đổi.
Một buổi tối nọ, khi đang sắp xếp giá sách, từ trang gấp của cuốn tài liệu rơi ra một mảnh giấy.
Chữ Bùi Trưng, viết bằng tay trái, ng/uệch ngoạc.
"Thịt kho tàu cũng được."
Tôi ngồi xổm trước giá sách, cầm mảnh giấy ngắm nghía một lúc.
"Cái gì thế?" Bùi Trưng thò đầu ra từ bếp, trên tay vẫn cầm vá.
"Một cổ vật."
Hắn bước lại, cúi nhìn rồi đứng hình.
"Anh còn giữ?"
"Ừ."
"Lâu thế rồi cơ mà."
"Từ hồi nằm viện."
Hắn nhìn mảnh giấy, rồi nhìn tôi, biểu cảm phức tạp.
"Hồi đó anh đã—"
"Hồi đó chẳng nghĩ gì cả," tôi kẹp lại mảnh giấy vào trang sách, "chỉ là không nỡ vứt."
"Sao không vứt?"
Tôi suy nghĩ giây lát.
"Có lẽ vì cảm thấy, một người bị xuyên thủng vai phải, dùng tay trái nắn nót viết từng chữ thế này, vứt đi thì không phải."
Hắn im lặng vài giây.
"Chỉ vì thế?"
"Chỉ vì thế."
Tôi đặt sách lại giá, đứng dậy.
"Nồi của em."
"Gì cơ?"
"Khét rồi."
Hắn quay người lao vào bếp, tiếng vá đ/ập vào nồi vang lên, xen lẫn câu cảm thán lí nhí không hợp với quân hàm của hắn.
Tôi đứng trước giá sách, lắng nghe âm thanh trong bếp, khóe miệng nhếch lên.
Cơ mặt gi/ật giật.
Hôm đó lớp dưới cùng thịt kho tàu bị ch/áy xém, hắn xếp mặt ch/áy úp xuống dưới đĩa, tưởng tôi không nhận ra.
Tôi nhận ra, nhưng không nói.
Ăn xong, hắn rửa bát, tôi lau bàn.
Ngoài cửa sổ mưa bay lất phất, hạt mưa lộp độp rơi trên bệ cửa nghe thật khẽ.
"Tống Dã."
"Ừ."
"Anh có nghĩ tới... chuyện sau này không?"
"Sau này nào?"
"Ý em là... tương lai ấy."
Tôi giặt sạch khăn lau, vắt lên vòi nước.
"Chưa."
Hắn tắt nước, quay người tựa vào bồn rửa, nhìn tôi.
"Em có nghĩ."
"Nghĩ gì?"
"Nghĩ nhiều lắm." Hắn nói, "nhưng tóm lại chỉ một việc."
"Việc gì?"
"Có anh."
Tôi nhìn hắn.
Đèn bếp màu vàng ấm chiếu lên người hắn, chiếu lên chồng bát đĩa sạch bóng phía sau, chiếu lên chậu trầu bà từ phòng làm việc bệ/nh viện mang về trên bệ cửa sổ.
Cây trầu bà lớn nhanh, tươi tốt hơn hồi ở văn phòng nhiều. Chắc tại Bùi Trưng tưới nước đều đặn hơn tôi, mà hắn còn biết bón phân nữa.
"Bùi Trưng."
"Ừ."
"Anh cũng chưa nghĩ tới tương lai."
"Ừ."
"Nhưng nếu tương lai... cũng giống hiện tại," tôi lau khô tay, "thì cũng ổn."
Hắn đưa tay ra, tôi đặt tay mình vào.
Lòng bàn tay áp vào nhau, ngón tay đan lại, như mọi lần.
Nhưng lần nào cũng như lần đầu.
Về sau, thỉnh thoảng tôi lại nhớ về kiếp trước.
Không phải cố ý nhớ, chỉ là đôi khoảnh khắc chợt lóe lên.
Như khi rửa tay, đôi lúc vẫn xoa thêm một lượt. Bùi Trưng từng để ý, không hỏi, chỉ đưa cho tôi chiếc khăn khô sau khi tôi rửa xong.
Như khi tăng ca viết bệ/nh án tới khuya, tim đột nhiên đ/ập nhanh. Không phải vấn đề tim mạch, chỉ là tiếng vọng của ký ức. Ý nghĩ "cố thêm chút nữa thôi" trỗi dậy, rồi bị ý nghĩ khác đ/è xuống - có người đang đợi ở nhà.
Như khi thỉnh thoảng đi qua hành lang bệ/nh viện, thứ hành lang trống trải chỉ có tiếng bước chân, lại nhớ về lần gục ngã cuối cùng.
Nhưng khi nhớ lại, không còn sợ nữa.
Vì cuối con đường này có...
Một sáng cuối tuần, tôi tỉnh giấc rất sớm, trời chưa sáng hẳn.
Bùi Trưng vẫn ngủ, nhịp thở đều đặn, nằm nghiêng, tay đặt trên chiếc gối bên tôi.
Không phải đặt lên người tôi, mà là trên gối.
Khi ngủ hắn có thói quen này, bàn tay vô thức vươn về phía tôi. Đôi khi chạm vào cánh tay tôi, đôi khi chạm vào gối, đôi khi chẳng chạm vào gì, cứ thế duỗi ra.
Tôi từng hỏi hắn tại sao.
Hắn đáp: "Để x/á/c nhận anh còn ở đây."
Tôi nói: "Anh đi đâu được."
Hắn nói: "Em biết anh không đi, nhưng vẫn không yên tâm."
Tôi không hỏi lại nữa.
Sáng hôm đó tôi nằm trên giường, nhìn ánh sáng ban mai lọt qua khe rèm, lắng nghe tiếng thở của hắn, cảm nhận ngón tay hắn đặt trên mép gối, cách vai tôi chừng ba phân.
Ba phân.
Rất gần.
Tôi đưa tay ra, chạm nhẹ vào đầu ngón tay hắn.
Ngón tay hắn khẽ cử động, trong giấc ngủ nắm lấy tay tôi.
Lực rất nhẹ, lỏng lẻo, như đang nắm thứ có thể bay mất bất cứ lúc nào.
Nhưng tôi không bay đi đâu.
Tôi chẳng đi nơi nào cả.
Ngoài cửa sổ, bầu trời dần sáng tỏ.
Tôi nhắm mắt, trong tiếng tim hắn đ/ập, ngủ thêm một lát nữa.
Giấc ngủ kiếp này so với kiếp trước ngon lành hơn nhiều.
Không phải vì giường êm hơn, không phải vì không phải trực đêm.
Là vì khi tỉnh giấc, bên cạnh có người.
Không cần làm gì, chỉ cần có người ở đó.
Hắn từng nói thế.
Giờ tôi đã hiểu.