Tôi khuyên nhủ nàng: "Tiểu thư hãy ng/uôi cơn gi/ận, người kia hôm nay đã bị đ/á/nh đến nửa sống nửa ch*t, chưa chắc đã qua khỏi, hà tất phải tốn công đ/á/nh đ/ập rồi đ/âm ch/ém, ném x/á/c ra ngoài? Chỉ tổ làm hoen ố thanh danh phủ ta, khiến thiên hạ chê cười."
Thất tiểu thư liếc nhìn tôi, lẩm bẩm: "Con tiểu nô này, dám cả gan dạy ta ư? Cút ngay đi, đừng ở đây chướng mắt."
Tôi vâng lời, nhanh chóng lui ra.
6
Chuyện ở Xuân Quang yến rốt cuộc cũng lan truyền ra ngoài, lời ong tiếng ve đồn vào trong phủ, đồ sứ trong nhà lại thay một lượt mới.
Ngô lão gia gi/ận dữ, cho rằng Ngô phu nhân hai chị em không biết dạy con, than thở hối h/ận vì xưa kia chỉ ham sắc đẹp mà không cầu hiền đức.
Ngô phu nhân chịu nhục, sau khi lớn tiếng cãi vã với Ngô lão gia, liền đưa Thất tiểu thư đến chùa Hoằng Từ xuống tóc tu hành (vẫn giữ tóc).
Chùa Hoằng Từ tuy là cửa không, nhưng thường có các mệnh phụ phu nhân đến thắp hương cầu phúc, nên cũng không quá hẻo lánh.
Nhưng Thất tiểu thư từ nhỏ đã được nuông chiều, lớn lên trong nhung lụa gấm vóc, đột nhiên đến nơi thanh u cửa Phật, cảm thấy trời đất sụp đổ, suốt ngày đóng cửa ở lì trong phòng, tự oán tự thương.
Tôi không rảnh để ý đến nỗi buồn xuân thương thu của nàng, nàng trốn việc thì mọi chuyện đều đổ lên đầu tôi.
Đời trước, Thất tiểu thư danh tiếng tốt, đương nhiên không bị đưa vào chùa tu hành. Chỉ là nàng mắt kém, muốn vin cành cao lại gặp phải kẻ bề ngoài hào nhoáng nhưng ruỗng nát bên trong.
Còn Ngô Cảnh Chi sau khi đỗ cao, nóng lòng tỏ bày tâm ý, nhưng nàng lại kh/inh thường hắn, vừa chê gia thế thấp kém, lại thấy hắn đã vào chốn quan trường cũng có chút ích lợi, bèn đem tôi chỉ cho hắn.
Đời này, sự tình rốt cuộc đã đổi khác.
Ta đã bước lên con đường hoàn toàn mới, những chuyện đời trước giờ đã thành mây khói, ta sẽ từng bước tiến tới một nhân sinh hoàn toàn khác biệt, tươi sáng và vững chãi.
Dẫu đường trước còn dài, ắt có gập ghềnh chông gai, nhưng ta bước đi vững chắc, không lo không sợ.
Thực ra cuộc sống trong chùa không khổ, mỗi ngày tôi dậy sớm làm công quả buổi sáng, sau khi dùng cơm chay đến điện Phật thắp hương tụng kinh, ngồi thiền tu hành, lúc nhàn rỗi quét dọn sân chùa, lau tượng Phật, chuông sớm trống chiều, cuộc sống vô cùng quy củ.
Cứ như thế trôi qua vài tháng, xuân qua hè tới, mặt trời trở nên gay gắt.
Chùa Hoằng Từ nằm lưng chừng núi, cây cối bao quanh, thường có gió mát thổi qua, người trong chùa chỉ cảm thấy mát mẻ dễ chịu.
Nhưng những người lên núi cầu phúc thì khổ sở, thường có phụ nữ trẻ con thể trạng yếu không chịu nổi nắng gắt, ngất xỉu được khiêng lên. Ni cô thường bảo chúng tôi tưới nước lên bậc đ/á núi để giảm nhiệt, tạm thời xoa dịu cái nóng như th/iêu.
Trên đường đi gánh nước, tôi nhặt được một đứa trẻ.
Nó nằm một mình trong chỗ râm, mắt nhắm nghiền, mặt đỏ bừng, mồ hôi ướt đẫm người, dải buộc tóc cũng ướt sũng.
Tôi gi/ật mình, biết ngay là trúng nắng, không kịp gánh nước nữa, vội bế nó chạy về chùa.
Chữa trúng nắng trước tiên phải hạ nhiệt, tôi lấy nước mát lau mặt cổ và tay chân cho nó, lại cho uống nước, quạt mát, một lúc sau nó từ từ mở mắt, oà lên khóc.
Khóc được hai tiếng rồi nín, nó chớp mắt nhìn quanh, mếu máo hỏi tôi: "Cô là ai? Bà nội và mẹ cháu đâu rồi?"
Tôi đáp: "Ta là cư sĩ tu hành ở chùa Hoằng Từ, đi gánh nước thấy cháu một mình nằm ngất bên ngoài nên đưa về, không quen biết thân nhân của cháu."
Nó nhăn mặt, cúi đầu x/ấu hổ, im thin thít.
Thấy nó đã không sao, tôi đứng dậy nói: "Cháu đã ổn rồi thì đi tìm người nhà ngay đi, họ hẳn là sốt ruột lắm."
Nó ngạc nhiên nhìn tôi: "Cô bảo cháu tự đi tìm? Cô không đi cùng cháu gặp họ sao?"
Tôi bất đắc dĩ: "Ta còn phải đi gánh nước."
Nó nhìn tôi với ánh mắt kỳ lạ, lại cúi đầu lẩm bẩm gì đó, ủ rũ trông rất đáng thương.
Tôi thở dài, rốt cuộc không nỡ lòng, dắt nó đến chính điện.
Chính điện ồn ào khác thường, vừa dắt đứa trẻ ló mặt, lập tức có người xông tới, tôi gi/ật mình lùi lại, đứa trẻ lập tức bị mọi người vây quanh, nhất thời chỉ nghe tiếng khóc lóc không ngớt.
Tôi chợt nhận ra thân phận đứa trẻ này không tầm thường, lại không muốn dính líu đến gia thế người khác, bèn lặng lẽ quay đi, nhanh chân chuồn thẳng.
7
Lại qua một thời gian, trong chùa yên ổn, tiết trời cũng dần dịu mát.
Trong núi ban ngày còn đỡ, khi mặt trời xế bóng, sao mai lấp ló, đêm thường có mưa phùn, ngồi một mình trong chính điện cảm nhận được hơi lạnh càng lúc càng thấm.
Đến chùa đã nửa năm, Thất tiểu thư rốt cuộc cũng chịu ra khỏi phòng dạo chơi trong sân.
Nhưng nàng vẫn không động tay động chân làm việc, mọi việc vẫn do tôi đảm đương.
Từ khi bước ra khỏi phòng, thấy chùa Hoằng Từ nhiều hoa cỏ, nàng lại có thêm thú vui mới:
Cắm hoa.
Nàng nói mỹ miều rằng: "Dù gặp cảnh ngộ éo le cũng phải tự tìm niềm vui, biết khổ biết sướng mà sống cho đàng hoàng."
Tất nhiên, hoa là do tôi đi hái.
Hôm qua có trận mưa rào, những đóa hoa nở hết đều tàn rụi, chỉ còn hoa quế vàng tỏa hương thơm ngát mười dặm núi rừng.
Vì trận mưa này, dù hôm nay là rằm nhưng khách thập phương lên núi cũng không quá đông, tôi chợt có chút thảnh thơi.
Thất tiểu thư không thích hoa quế trong chùa, bảo tôi lên núi tìm, lại phải chọn đóa nở vừa đẹp, tôi biết nàng trong lòng không vui, cũng không muốn ở lại chùa nghe nàng than thở oán trách, bèn xách giỏ tre lên núi ngay.
Núi vắng sau cơn mưa mới, chiều thu se lạnh. Lối núi vốn không mưa, màu xanh không trung thấm ướt áo người.
Rừng rậm trúc cao, mây m/ù quấn quýt, tôi đi mãi đi mãi, chỉ cảm thấy trong lòng có một sự thư thái bình yên chưa từng có.
Hoa quế thực sự rất thơm, đặc biệt là quế rừng mọc tự nhiên, nhỏ như hạt gạo, hương ngọt mà dịu.
Khi tôi tìm được cây quế, trời lại đổ mưa, tôi liền ngồi tựa vào gốc cây vừa tránh mưa vừa thẫn thờ.
Không biết bao lâu, trời dần tối, tôi c/ắt vài cành quế trong mưa định về nộp công, chợt chân trượt, sau đó cảm nhận được rung động nhẹ dưới đất.