“Uống đi. Ng/uội rồi.”
Cô nhấc ly lên, uống một hơi hết sạch.
Đắng.
Nhưng sau vị đắng ấy lại là ngọt ngào.
Lễ trao giải diễn ra trong khuôn khổ Tuần lễ Thiết kế Milan.
Địa điểm là Palazzo Isimbardi, một dinh thự quý tộc từ thế kỷ 15 với đài phun nước và những cây chanh trong sân. Khương Vãn Ninh mặc chiếc váy đen duy nhất có thể mang ra mắt được, m/ua từ đợt giảm giá của Zara. Nguyên giá 99 euro, cô đợi đến khi hạ còn 29 euro mới m/ua.
Cô đứng trong sân, nhìn những nhà thiết kế và nhà phê bình xung quanh trong bộ đồ cao cấp và trang sức đắt tiền, bỗng cảm thấy mình lạc lõng.
Đôi giày của cô là loại đế bằng m/ua online, 19 euro bao ship. Chiếc túi là túi vải bố, bên trong đựng cuốn sketchbook và một cây bút chì.
Đang phân vân không biết có nên vào trong không, một giọng nói vang lên phía sau.
“Khương Vãn Ninh?”
Cô quay lại.
Một người đàn ông Hoa quốc đứng trước mặt. Ngoài ba mươi, mặc bộ vest xanh đậm không đeo cà vạt, trông rất phóng khoáng. Anh cao hơn cô gần cả cái đầu, ánh mắt ấm áp, khóe miệng nở nụ cười nhẹ.
“Anh là…?”
“Cố Hành Chu.” Anh đưa tay ra, “Tôi là một trong giám khảo cuộc thi này. Tác phẩm của em, do tôi chọn.”
Cô sững người, bắt tay anh.
Bàn tay anh ấm áp, lực vừa phải, không như kiểu người thích siết ch/ặt để thể hiện quyền uy.
“《Fessura》.” Anh nói, “Ý tưởng về vết nứt đó, em nghĩ ra thế nào?”
Cô không ngờ anh lại hỏi thẳng vậy. Những lời xã giao kiểu “chúc mừng” hay “rất vui được gặp em” anh chẳng nói lấy một câu.
“Phòng em ở rất nhỏ.” Cô nói, “Cửa sổ cũng bé. Nhưng mỗi chiều ba giờ, ánh nắng sẽ chiếu qua cửa sổ, in lên tường một vệt sáng nhỏ. Rất nhỏ, nhưng rực rỡ.”
Cô ngừng lại, “Em nghĩ, ánh sáng không cần lớn. Chỉ cần một khe hở, nó sẽ lọt vào.”
Cố Hành Chu nhìn cô, trong ánh mắt có thứ gì đó khiến cô không quen.
Không phải cái nhìn soi xét, định giá, đặt lên bàn cân như Lục Đình Thâm.
Mà là thứ ánh mắt chân thành, lắng nghe, coi cô như một con người.
“Tiếng Ý của em tốt hơn trong hồ sơ dự thi.” Anh nói.
“Cảm ơn anh. Thực ra vẫn chưa tốt lắm.”
“Đã rất tốt rồi.” Anh cười, “Lần đầu tôi đến Milan, đến gọi một ly cà phê cũng không xong.”
“Thế anh gọi thế nào?”
“Chỉ vào ly cà phê của người khác rồi nói ‘questo’.” Anh dùng tiếng Ý nói “cái này”.
Cô không nhịn được cười.
“Sau đó thì sao?”
“Sau đó người ta đưa ly cho tôi.” Anh cười, “Tôi uống cà phê của một người lạ.”
Cô cười càng tươi hơn.
“Vậy thì,” anh nói, “Vào trong chứ? Lễ trao giải sắp bắt đầu rồi.”
“Ừ.”
Cô theo anh vào đại sảnh. Đến cửa, anh khẽ nghiêng người nhường cô đi trước.
Cử chỉ nhỏ thôi. Nhưng Lục Đình Thâm chưa bao giờ làm vậy.
Trong lễ trao giải, Khương Vãn Ninh là người cuối cùng bước lên sân khấu. Giải vàng, phần quan trọng nhất.
Cô đứng trên sân khấu, phía dưới là hàng trăm nhân vật quan trọng nhất giới thiết kế châu Âu. Ánh đèn chiếu thẳng vào mặt, chói chang.
Cô cầm chiếc cúp, đứng trước micro.
Bài phát biểu đã chuẩn bị bỗng chốc quên sạch.
Nhìn những gương mặt xa lạ dưới kia, cô chợt nghĩ đến một người.
Enzo.
Anh không đến. Anh bảo gh/ét những nơi thế này, để cô tự đi.
Cô biết, anh sợ làm cô x/ấu hổ. Một người b/án đồ cũ ở chợ trời, mặc chiếc áo khoác cũ dính đầy mùn c/ưa, xuất hiện ở chốn này sẽ thành trò cười.
Nhưng cô không quan tâm người khác có cười hay không.
“Tôi muốn cảm ơn một người.” Giọng cô run nhẹ, “Anh ấy dạy tôi cách lắng nghe tiếng gỗ. Anh bảo, thứ khiến người ta nhớ không phải là thứ hoàn hảo, mà là thứ có câu chuyện.”
Cô ngừng lại, hít sâu.
“Anh còn nói, không ngọt, mới là đ/á/nh giá cao nhất.”
Khán giả cười ồ. Dù họ không hiểu lắm “không ngọt” nghĩa là gì.
Khương Vãn Ninh cũng cười.
Lần này, nụ cười của cô không còn dè dặt, không xu nịnh, không giả tạo.
Đó là nụ cười của Khương Vãn Ninh.
Chỉ thuộc về riêng cô.
Sau buổi lễ, điện thoại cô nhận hàng chục tin nhắn.
Có lời chúc mừng từ trường, thăm hỏi từ bạn học, của Enzo chỉ vỏn vẹn một chữ: “Ừ.”
Cô cười, gửi lại hai chữ: “Không ngọt.”
Rồi cô thấy một tin nhắn từ số lạ.
“Chúc mừng. Anh thấy trên tin tức rồi. – Lục Đình Thâm.”
Cô dán mắt vào dòng chữ ấy rất lâu.
Ba năm trước, cô nhắn tin anh chẳng bao giờ hồi âm. Ba năm sau, anh chủ động nhắn một câu.
Nhưng chẳng còn quan trọng nữa.
Cô khóa màn hình, cất điện thoại vào túi vải.
Bước ra khỏi Palazzo Isimbardi, gió đêm Milan ùa vào mặt, mang theo hương hoa quế tháng Chín. Đài phun nước trong sân lấp lánh dưới ánh trăng.
Cố Hành Chu đang đợi ở cửa.
“Đi ăn gì không?” Anh hỏi, “Anh biết một tiệm pizza ngon gần đây.”
“Anh đãi à?”
“Tất nhiên. Em là ngôi sao tối nay mà.”
Cô suy nghĩ giây lát: “Pizza cũng được. Nhưng em tự gọi. Không cần người khác gọi hộ.”
Chữ “người khác” cô nói không ám chỉ Cố Hành Chu. Nhưng cô biết anh hiểu.
“Được.” Anh nói, “Em tự chọn.”
Tối đó, họ ngồi trong một tiệm pizza nhỏ, mỗi người gọi một phần Margherita. Cố Hành Chu gọi rư/ợu vang đỏ, cô chỉ uống nước lọc.
“Em không uống rư/ợu?” Anh hỏi.
“Không quen uống.”
“Trước có người không cho em uống?”
Cô liếc nhìn anh. Người này thật tinh tế.
“Trước có người bắt em phải tỉnh táo.” Cô nói, “Vì người tỉnh táo dễ kiểm soát hơn.”
Cố Hành Chu không hỏi thêm. Anh lặng lẽ ăn pizza, thỉnh thoảng kể vài chuyện vui về Tuần lễ Thiết kế Milan.
Ăn được nửa chừng, điện thoại anh reo.
Anh liếc màn hình, tắt chuông.
“Không sao đâu, anh cứ nghe đi.” Cô nói.
“Chuyện không quan trọng.” Anh úp điện thoại xuống bàn.
Cô để ý động tác đó không phải tắt máy, mà là úp màn hình. Hàm ý có lẽ là: lúc này ăn tối với em quan trọng hơn nghe điện thoại.
Lục Đình Thâm sẽ chẳng bao giờ làm thế. Điện thoại anh luôn đặt ngửa trên bàn, màn hình hướng lên trời.