“Thế thì sao?” Ta ngẩng mắt nhìn hắn.
Hắn há hốc miệng, chẳng phát ra được âm thanh.
“Thế là ngài muốn nạp thiếp cho nàng?” Ta thay hắn nói ra lời, “Để nàng sinh đứa con ấy, gọi ta là mẹ, sau này chia gia sản của con ta, cư/ớp tương lai con ta?”
“Ta không làm thế!” Hắn vội vàng đáp, “Ta sẽ không để bất cứ ai vượt mặt nàng! A Nguyên, nàng tin ta, trong lòng ta chỉ có nàng...”
“Nhưng ngài đã chạm vào nàng.” Ta ngắt lời, giọng điềm tĩnh, “Thẩm Nghiễm, đã nhơ bẩn thì mãi nhơ bẩn.”
Hắn như bị rút hết sinh khí, lảo đảo lùi một bước, ngã vật xuống ghế.
Rất lâu sau, lâu đến nến sắp tàn, hắn mới khẽ nói: “Đứa bé ấy... dù sao cũng là một sinh mệnh. Y Y nàng... không nơi nương tựa, nếu mất đứa bé này, nàng thật sự không sống nổi...”
Ta bỗng muốn cười.
Hóa ra trong mắt hắn, Liễu Y Y là “không nơi nương tựa”, còn ta là thành đồng vách sắt.
Liễu Y Y “không sống nổi”, ta phải dâng chồng, ngôi chính thất, tất cả những gì ta khó nhọc gây dựng, để mặc kệ.
“Thẩm Nghiễm,” ta khẽ hỏi, “ngài còn nhớ đêm động phòng nói gì không?”
Hắn ngẩng đầu nhìn ta, ánh mắt ngơ ngác.
“Ngài nói, trong nhà này ta làm chủ.” Ta mỉm cười, “Vậy giờ ta nói, Liễu Y Y và đứa con trong bụng, không thể giữ.”
Sắc mặt hắn lập tức tái nhợt.
9
Mẹ chồng rốt cuộc x/é mặt.
Bà không tìm ta, mà trực tiếp mở tộc từ đường, mời các tộc lão, trước bài vị tổ tiên, buộc ta “tự thỉnh hạ đường”.
Trong từ đường đèn đuốc sáng trưng, bài vị san sát.
Mẹ chồng ngồi thượng tọa, các tộc lão ngồi hai bên, Thẩm Nghiễm đứng trong bóng tối, không rõ thần sắc.
Liễu Y Y quỳ trên đệm cỏ, cúi đầu, vai r/un r/ẩy, khóc lóc.
“Lục thị,” mẹ chồng lên tiếng, giọng lạnh như băng, “nàng về cửa ba năm không sinh nở, đã phạm thất xuất. Nay Y Y có th/ai, là tổ tiên phù hộ quốc công phủ. Nếu biết điều, tự xin rời đi, quốc công phủ nhớ công lao nhiều năm, nhận làm nghĩa nữ, Cẩm Thư Các vẫn thuộc về nàng. Bằng không...”
Bà dừng lại, khóe miệng nhếch lên nụ cười lạnh: “Ngoại ô kinh thành, đêm đêm đều có x/á/c vô danh. Quốc công phủ tốt, Nghiễm nhi tốt, nàng mới được tốt.”
Ta quay nhìn Thẩm Nghiễm.
Hắn cúi mắt, ngón tay co quắp trong tay áo, nắm đến trắng bệch. Từ đường tĩnh lặng đ/áng s/ợ, chỉ có tiếng nức nở dồn nén của Liễu Y Y.
“Nghiễm nhi,” mẹ chồng thúc giục, “con nói đi.”
Thẩm Nghiễm từ từ ngẩng đầu.
Ánh nến nhảy vào mắt hắn, chập chờn rồi tắt lịm.
Hắn nhìn ta, môi r/un r/ẩy, giọng khô khốc như giấy nhám cọ gỗ.
“A Nguyên...” hắn khàn giọng, “Y Y mang th/ai, là cốt nhục của ta. Nàng ấy một thân yếu đuối, bị bỏ rơi không còn đường lui... Nàng vốn rộng lượng, hãy nhường ngôi chính thất cho nàng ấy, cho hai mẹ con nàng một đường sống, được không?”
“Chỉ cần một đường sống?” Ta hỏi.
Ánh mắt hắn chớp lo/ạn, không dám nhìn thẳng.
Ta bỗng cười.
Cười đến nước mắt giàn giụa, cười đến mọi người trong từ đường biến sắc.
Cười đến cong cả người, phải vịn bàn thờ mới đứng vững, rồi lau đi giọt lệ vì cười.
“Được.” Ta nói, giọng vang vọng trong từ đường trống trải, “Ta cho nàng đường sống.”
Thẩm Nghiễm ngẩng phắt đầu, mắt lóe lên tia bất tín rồi chìm trong hối h/ận.
Mẹ chồng thở phào, khóe miệng lộ nụ cười đắc ý.
Liễu Y Y cũng ngừng khóc, liếc nhìn ta, ánh mắt không giấu nổi hân hoan.
“Nhưng,” ta từ từ đứng thẳng, quét mắt từng người, “ta muốn Thẩm Nghiễm viết một phong hưu thư. Không phải hòa ly, mà là hưu thư. Lý do ghi: bảy năm không con, gh/en t/uông, bất hiếu với cha mẹ chồng.”
Thẩm Nghiễm mặt tái mét: “A Nguyên, nàng hà tất...”
“Ta chỉ cần hưu thư.” Ta ngắt lời, “Viết xong, hôm nay ta dọn khỏi quốc công phủ. Không viết...”
Ta mỉm cười: “Thì cùng nhau chờ xem. Xem đứa con trong bụng biểu muội chờ được, hay danh phận thiếu phu nhân quốc công phủ của ta chờ được.”
Mẹ chồng đ/ập bàn đứng dậy: “Nàng dọa ta?!”
“Mẫu thân trọng lời.” Ta khẽ cúi đầu, “Thiếp chỉ đang thương lượng. Một đường sống đổi một phong hưu thư, rất công bằng.”
Thẩm Nghiễm nhìn ta, nhìn rất lâu.
Ánh mắt ấy có đ/au khổ, vật vã, c/ầu x/in, cuối cùng hóa thành tro tàn.
Hắn bước đến bàn, cầm bút, chấm mực, cổ tay r/un r/ẩy, giọt mực rơi xuống giấy, loang đen một vùng.
Hắn viết từng nét, chậm rãi, dùng hết sức.
Viết đến “bảy năm không con”, ngòi bút dừng lại, viết đến “gh/en t/uông”, lại dừng.
Khi viết xong hai chữ “Thẩm Nghiễm”, cả người hắn chao đảo, suýt ngã.
Hưu thư đưa đến tay ta, vẫn còn hơi ấm của hắn.
Ta xem kỹ, gấp lại, cất vào tay áo.
Rồi quay người, hướng bài vị tổ tiên, đỉnh đạc cúi ba cái.
“Chư vị tổ tiên trên cao,” ta khẽ nói, “Hôm nay Lục Nguyên ra khỏi cửa này, ân nghĩa với Thẩm gia đoạn tuyệt. Sau này họa phúc, sống ch*t, đều không liên quan đến Thẩm gia.”
“Cũng xin chư vị chứng giám,” ta ngẩng mắt nhìn mẹ chồng, nhìn Thẩm Nghiễm, nhìn Liễu Y Y, cuối cùng nhìn các tộc lão, “Hôm nay, là Thẩm gia phụ ta, là Thẩm Nghiễm phụ ta. Ngày sau nếu có báo ứng, cũng là thiên đạo luân hồi, không trách được ai.”
Nói xong, ta đứng dậy, phủi sạch bụi trên váy, không ngoảnh lại bước khỏi từ đường.
Sau lưng văng vẳng tiếng cười lạnh của mẹ chồng, tiếng nức nở của Liễu Y Y, tiếng thở dài của tộc lão, cùng hơi thở nghẹn ngào đ/au khổ của Thẩm Nghiễm.
Ta đều nghe thấy.
Nhưng chỉ là nghe thấy.
10
Dương Liễu đợi ta ngoài nhị môn, mắt sưng như trái đào.
“Tiểu thư...”
“Đồ đạc thu xếp xong chưa?” Ta hỏi.
“Thu xếp xong rồi, đã chuyển lên xe ngựa.” Dương Liễu lau mắt, “Trần chưởng quỹ đang đợi cô ngoài thành.”
“Tốt.” Ta lên xe, vén rèm, lần cuối nhìn tấm biển quốc công phủ.
Trong đêm, bốn chữ vàng vẫn sáng chói, như tấm lưới lớn nguy nga, vây bọc bi ai ly hợp của bao người.
Ta từng nghĩ, có thể giữa tấm lưới này, giành cho mình một khoảng trời.
Là ta ngây thơ vậy.
Xe ngựa ra khỏi cổng thành, chân trời đã ló rạng.
Trần chưởng quỹ dẫn mười mấy lão quản sự Cẩm Thư Các, đợi ở thập lý trường đình.