Trong sách có một hàng chữ, khi ta nhìn thấy, chúng như sống dậy, chui vào tâm trí ta.
"Đệ đệ Tiểu Thất, nếu thấy lời này, chớ vì ta mà bi thương, văn chương là việc nghìn thu, được mất tự lòng hiểu, lòng ta chính khí ngất trời, vạn sự đều quang minh."
Ta đờ người. Tim ngừng đ/ập một nhịp. Những nét chữ này ta nhận ra, nhị sư huynh từng dạy ta, từng nét từng nét, tay người nắm tay ta viết ra.
"Tiểu Thất, chữ này đọc là 'nhân', một phẩy một mác, chống trời đạp đất."
Thuở ấy ta ng/u muội, viết hoài không đẹp, người cũng chẳng gi/ận, chỉ ngồi xổm bên cạnh, cầm cành cây vạch xuống đất, "Từ từ thôi, đợi khi lớn lên, tự nhiên sẽ hiểu."
Ta đã lớn chưa? Ta không biết. Chỉ biết tay nâng quyển sách này đang r/un r/ẩy.
"Này!" Chủ tiệm tỉnh giấc, quát ta, "Không m/ua thì đừng sờ! Làm hỏng mày đền nổi không?"
Ta ngẩng đầu, "Quyển sách này bao nhiêu?"
Hắn liếc nhìn, "Ch/áy thế này, mày muốn? Mười đồng mang đi."
Ta lục khắp người, chỉ có năm đồng. Đặt thanh mộc ki/ếm xuống, "Vật này cầm cho ngươi, ta đi gom tiền."
Chủ tiệm sửng sốt, phẩy tay, "Được rồi được rồi, năm đồng cũng được, cầm đi cầm đi, thanh ki/ếm g/ãy ấy ai thèm."
Ta ôm quyển sách tàn ra khỏi hiệu sách, đứng bên đường, xem đi xem lại hàng chữ ấy. Nhị sư huynh, người ở nơi nào? Trong sách ấy kẹp một mảnh giấy tàn, vẽ bản đồ, đ/á/nh dấu một chỗ: Thiên Thư Thành.
10.
Ta lên đường. Nửa tháng sau. Thiên Thư Thành. Cổng thành dựng tấm bia đ/á khổng lồ, khắc hàng chữ: "Văn chương thiên cổ sự, công đạo tại nhân tâm." Chỗ lạc khoản bị mài mờ, không nhận ra ai viết. Ta quanh thành một vòng, cuối cùng bị giọng nói trong quán trà níu chân. Người thuyết thư gõ mõ: "Chuyện rằng mười lăm năm trước, có thư sinh áo xanh, vác hòm sách rá/ch bước vào kinh thành." "Bấy giờ văn đàn, đều chuộng từ hoa lệ, văn chương rỗng tuếch, không có thực chất. Nhưng vị tiên sinh này, một thiên 'Tế Thế Luận', chữ như d/ao, câu tựa m/áu -" "'Kẻ làm văn, phải vì dân lập mệnh, vì trời đất lập tâm, nếu chỉ khéo múa bút, khác gì kẻ múa rối?'" "Lời vừa thốt, văn đàn kinh thành chấn động! Những lão tiên sinh tự xưng 'văn tông' mặt mũi không còn, nhưng không bẻ được lỗi, bởi người thật có học vấn!" "Ba năm trời, người soạn mười hai quyển sách, mở trăm buổi giảng, sáng lập Hạo Nhiên Thư Viện, môn sinh khắp triều đình, trên đến tể tướng, dưới tới huyện lệnh, hễ kẻ đọc sách có chí, ai chẳng lấy làm vinh được vào cửa người?" "Đời gọi người là -" Người thuyết thư ngừng lại, từng chữ thốt ra: "Văn Thánh." Quán trà vang tiếng hoan hô. Ta nâng chén trà, nghe say mê, khóe miệng không tự giác nhếch lên. Người này nhất định là nhị sư huynh. Người thuyết thư chuyển giọng, âm điệu trầm xuống: "Nhưng các ngươi biết vị Văn Thánh này cuối cùng ch*t thế nào không?" Quán trà im phăng phắc. Chén trà trong tay ta bỗng run lẩy bẩy. Nước trà văng ra, bỏng tay, ta chẳng cảm thấy. "Những lão tiên sinh văn đàn kia, mặt phục mà lòng chẳng phục, nhưng học vấn người ta quá lớn, biện không lại, m/ắng không thắng, biết làm sao?" Người thuyết thư cười lạnh: "Họ chơi âm một chiêu - tấu hặc." "Bảo người tụ chúng giảng học, bàn chuyện triều chính; bảo người thu nhận đồ đệ, kết bè kéo cánh, từng điều từng khoản, toàn tội ch*t người." "Triều đình phái người tra. Tra ba tháng, không tìm được bằng cớ, nhưng bọn họ không buông, lén lấy một bản thảo văn chương của người." "Họ tách từng câu từng chữ, xuyên tạc từng lời, vốn viết 'kẻ trị nước phải lấy dân làm gốc', bị họ nói thành 'ám chỉ thánh thượng không thương dân'; vốn viết 'quan lại không trong sạch thì dân oán sôi sục', bị họ vu là 'xúi giục bách tính chống triều đình'." "Muốn thêm tội, lo gì không có lời?" "Cuối cùng, triều đình hạ chỉ, cấm sách, đ/ốt bản thảo, đuổi đồ đệ, giam người." "Văn Thánh bị tống giam hôm ấy, trời đổ tuyết lớn, người ngồi trong ngục, xin giấy bút, viết tám chữ." "'Lòng ta quang minh, còn gì để nói?'" "Rồi sau đó, không còn gì nữa." Quán trà im như tờ. Ta ngồi đó, bất động. Chén trà trong tay, không biết lúc nào đã rơi xuống đất, vỡ tan. Bước khỏi quán trà, lẫn vào dòng người, đi vào con hẻm vắng. Ta nhớ lại dáng nhị sư huynh dạy ta nhận chữ. Người ngồi xổm dưới đất, cầm cành cây vạch vạch, miệng lẩm nhẩm: "Tiểu Thất, chữ này đọc 'nhân', một phẩy một mác, chống trời đạp đất." Thuở ấy ta hỏi: "Nhị sư huynh, chống trời đạp đất là gì?" Người nghĩ một lát, cười đáp: "Là dù ở đâu, dù gặp chuyện gì, cũng đứng thẳng được." Ta lại hỏi: "Vậy sư huynh đứng thẳng chưa?" Người gi/ật mình, rồi xoa đầu ta, chẳng nói gì. Giờ ta biết rồi. Người vẫn đứng rất thẳng. Cho đến cuối cùng. Cho đến khi viết tám chữ ấy. Quyển sách tàn trong lòng áo đ/âm vào da thịt, ta lôi ra, lật đến trang ấy. "Đệ đệ Tiểu Thất, nếu thấy lời này, chớ vì ta mà bi thương." Ta nhìn chằm chằm mấy chữ ấy, xem rất lâu rất lâu. Nhị sư huynh, người bảo ta đừng bi thương. Nhưng người biết không, ta vẫn chưa học được. 11. Ta hỏi đường tìm đến Hạo Nhiên Thư Viện. Hay đúng hơn là phế tích Hạo Nhiên Thư Viện. Cổng đổ sập một nửa, nửa còn lại chênh vênh, tấm biển treo bị đ/ập nát. Ta bước qua ngưỡng cửa, đi vào. Sân viện rộng lớn, cỏ dại mọc cao hơn cả ta, gió thổi qua, xào xạc, chính đường đã bị th/iêu rụi, chỉ còn mấy cây cột đen thui chọc lên trời, như que củi ch/áy dở, sách vở tàn phế khắp mặt đất, đã lẫn vào bùn đất, không nhận ra hình dạng. Ta đứng giữa sân, không nhúc nhích. Nhị sư huynh mà thấy cảnh này, chắc đ/au lòng lắm. Người ấy, không nỡ thấy sách bị vùi dập. Có lần ta vô tình x/é rá/ch một trang sách của người, mặt người tái mét, nhưng không nỡ m/ắng ta, chỉ ngồi xổm đó, cầm trang sách, từng chút dán lại. Lúc ấy bảo ta: "Tiểu Thất, sách rá/ch có thể vá, vá xong vẫn đọc được, chứ lòng người mà rá/ch thì khó lắm." Sau chính đường có tiểu viện. Góc sân có tảng đ/á, hẳn là nửa tảng đ/á. Trên có chữ, bị đ/ập g/ãy, chỉ còn hai chữ: "Hữu giáo—" Hai chữ "vô loại" đằng sau đã mất.