Hắn trở thành một hoàng đế tốt.
Chăm chỉ chính sự, yêu dân, sáng suốt phán đoán, quyết đoán. Trong sử sách hẳn sẽ dành cho hắn những lời khen ngợi.
Nhưng trước mặt ta, đôi khi hắn vẫn là chàng thiếu niên năm nào.
Hắn bảo ta gọi hắn là A Hanh.
Chuyện ấy xảy ra tự lúc nào, ta đã chẳng còn nhớ rõ.
Đại khái là một buổi chiều hè nào đó, hắn hóng mát trong sân cung Khôn Ninh, ta quạt cho hắn, hắn chợt nói: "Đừng gọi hoàng thượng nữa, nghe xa cách lắm."
"Vậy gọi là gì?"
"Gọi A Hanh." Hắn nói, "Danh tự của trẫm, trừ Tiên đế và Thái hậu, chưa từng có ai gọi cả."
Ta do dự một chút: "Như thế không hợp quy củ."
"Quy củ là do người đặt ra." Hắn nghiêng đầu nhìn ta, trong ánh mắt có chút bướng bỉnh thuở thiếu thời, "Gọi một tiếng nghe thử."
Ta mở miệng, cảm thấy hơi lạ lẫm: "A... Hanh."
Hắn cười, đuôi mắt cong cong, tựa như ngọn đèn bỗng bừng sáng trong hoàng hôn.
"Gọi thêm một tiếng nữa."
"A Hanh."
"Ừm." Hắn hài lòng quay đầu, ngắm nhìn ánh tà dương cuối cùng nơi chân trời, "Về sau cứ gọi như thế."
Ta cũng chẳng biết từ lúc nào, hắn bắt đầu gọi ta là A Vu.
Đại khái cùng khoảng thời gian ấy. Có lần hắn đến tìm ta, vừa bước vào liền gọi: "A Vu, xem trẫm mang gì cho nàng——" Lời vừa thốt ra, hắn tự gi/ật mình, ta cũng gi/ật mình.
"A Vu?" Hắn lặp lại một lần, như đang cân nhắc ý nghĩa hai chữ này, "Nghe thuận miệng hơn Hoàng hậu, thân mật hơn cả Hành Vu. Về sau gọi nàng là A Vu vậy."
Ta không phản đối. Cũng như hắn không phản đối khi ta gọi hắn là A Hanh.
Những năm qua, hắn đến cung Khôn Ninh không ít, cũng chẳng nhiều.
Khi thì đến dùng cơm, khi thì đến ngồi chốc lát, khi thì mệt mỏi vì xem tấu chương nên đến nghỉ ngơi.
Ở chỗ ta, hắn luôn thoải mái, nằm dài trên sập, chẳng thèm cởi hài, nói chuyện lúc có lúc không.
Ta ngồi bên đọc sách, thỉnh thoảng đáp vài câu.
Tiểu Hà thường nói: "Hoàng thượng ở nơi khác đâu có thế này. Có lần nô tỳ đến cục Thượng Công nhận đồ, đi ngang qua Ngự hoa viên, thấy hoàng thượng dẫn mấy vị đại thần đi qua, sắc mặt uy nghiêm khiến nô tỳ đứng từ xa cũng thấy sợ."
"Đó là hoàng thượng đang bàn chính sự." Ta đáp.
"Nhưng ở chỗ nương nương, hoàng thượng như biến thành người khác vậy." Tiểu Hà cười khúc khích, "Nên nô tỳ cảm thấy, hoàng thượng thích đến cung Khôn Ninh của chúng ta nhất."
Ta mỉm cười, không đáp lại.
Nhưng ngày tháng trôi qua, có một chuyện rốt cuộc không tránh được.
Hoàng hậu vô tự.
Bảy năm rồi, bụng ta vẫn không động tĩnh.
Bàn tán trên triều đường, từ thì thầm biến thành tấu chương công khai.
Kẻ nói "quốc bản bất khả bất lập", người bảo "thái quân nãi thiên hạ chi căn bản", từng câu từng chữ đều chỉ vào một sự thực - hoàng đế đăng cơ bảy năm, dưới gối vẫn không có con nối dõi.
Ban đầu, A Hanh còn nổi gi/ận trên triều.
Có lần ta nghe người kể, hắn ném tấu chương xuống đất tại điện Thái Hòa, tiếng động lớn đến mức vệ sĩ ngoài điện cũng nghe thấy: "Gia sự của trẫm, chẳng cần các ngươi xía vào!"
Nhưng lời nói ấy, nói một lần được, hai lần được, nói suốt ba năm năm năm, ngay cả hắn cũng biết là không thể đứng vững.
Thiên tử không có người nối dõi, không phải gia sự, mà là quốc sự. Những đại thần kia không phải cố tình làm khó hắn, mà đang làm tròn bổn phận.
Dần dần, sự phẫn nộ của hắn biến thành im lặng.
Hễ có ai nhắc đến chuyện lập thái tử, hắn không còn nổi gi/ận nữa, chỉ bình thản nói một câu "trẫm biết rồi", rồi thoái triều.
Nhưng ta biết, những lời ấy như kim châm đ/âm vào tim hắn.
Khi đến cung Khôn Ninh, đôi khi hắn ngồi bên cửa sổ thẫn thờ, chân mày nhíu thành nếp, không nói nửa lời.
Ta không hỏi, cũng không khuyên.
Chỉ rót cho hắn chén trà, đặt bên tay, rồi lặng lẽ ngồi bên lật sách.
Cho đến một ngày kia.
Đó là một buổi chiều thu, trong sân từng khóm hành vu nở hoa trắng li ti, hương thơm trong hoàng hôn càng thêm dịu dàng.
A Hanh đến, không cho người thông báo, tự mình đẩy cửa bước vào.
Ta đang ngồi bên cửa sổ đọc sách, nghe tiếng bước chân ngẩng đầu lên, thấy hắn đứng nơi cửa, ngược sáng, nét mặt không rõ ràng lắm.
"A Hanh?" Ta đặt sách xuống đứng dậy, "Sao lại đến giờ này? Đã dùng cơm chiều chưa?"
Hắn không trả lời, bước vào ngồi xuống bên bàn.
Tiểu Hà nhanh nhẹn dâng trà rồi lặng lẽ lui ra, đóng cửa lại.
Trong phòng yên lặng hồi lâu.
Hắn cầm chén trà lên, không uống, lại đặt xuống.
Ngón tay gõ nhẹ hai cái trên thành bàn, đó là tật nhỏ khi hắn do dự.
"A Vu." Cuối cùng hắn cất tiếng, giọng có phần trầm thấp, "Hôm nay trên triều hội, lại có đại thần dâng tấu chương."
Ta không nói gì, đợi hắn tiếp tục.
"Chuyện lập thái tử." Hắn nói, "Liên tục dâng bảy tám đạo. Của Lễ bộ, Ngự sử đài, còn có mấy vị ở Hàn lâm viện, liên danh dâng lên."
Ta gật đầu: "Ừm."
"Trẫm đã bác bỏ." Hắn nói, "Nhưng trẫm biết, bác được một lúc, không bác được cả đời."
Ta nhìn hắn. Gương mặt hắn dưới ánh nến đường nét rõ ràng, nếp nhăn giữa chân mày so mấy năm trước càng sâu hơn.
Thiên tử hai mươi ba tuổi, đang độ thanh xuân, nhưng lúc ấy hắn trông mệt mỏi vô cùng.
"A Hanh," Ta khẽ gọi, "Ngài đang phiền n/ão chuyện gì?"
Hắn trầm mặc rất lâu.
"Trẫm hết cách rồi." Hắn đột nhiên nói, giọng nhẹ như làn khói bị gió thổi tan.
Ta gi/ật mình.
Hắn quay đầu nhìn ta, trong ánh mắt có thứ ta chưa từng thấy.
Không phải tức gi/ận, không phải bất lực, mà là một thứ tình cảm sâu thẳm khó tả.
"A Vu," Hắn nói, "Trẫm hết cách rồi."
Ta nhìn hắn, đột nhiên cảm thấy trong lòng như có vật gì khẽ rung động.
Ta mỉm cười, nói: "Không sao."
Hai chữ này ta đã nói nhiều lần.
Khi còn ở nhà họ Thẩm đã nói, sau khi vào cung cũng nói. Khi Tiểu Hà thay ta oán h/ận ta đã nói, khi Thái hậu ám chỉ ta nên tranh sủng ta cũng nói.
Không sao, không sao, tất cả đều không sao.
Ta như ngọn cỏ mọc nơi góc tường, gió mưa đến thì khom lưng, gió mưa qua lại vươn lên, có gì đáng kể đâu.
Nhưng lần này, hắn không như mọi khi tránh ánh mắt ta.
Hắn nhìn sâu vào ta, trong mắt như có vực nước thăm thẳm, không thấy đáy.