“Thủ nghệ của hạ thần thô kệch,” Triệu Hằng tai đỏ ửng, “luyện tập ba tháng ròng, chỉ viết được đến thế này.”
Ta đứng sau bình phong, nhìn dáng vẻ vụng về của chàng, ngắm tấm thiếp cầu hôn x/ấu đến mức kinh thiên động địa, nhìn chú thỏ được khắc thành hình chuột, bỗng bật cười, cười đến nỗi nước mắt lăn dài.
Kiếp trước, Cố Trường Yến đến cầu hôn, mang theo danh họa cổ ngọc, gấm vóc chất đầy rương. Thiếp cầu hôn viết bằng lối chữ thoa hoa tiểu khải, từng chữ như ngọc châu.
Nhưng tấm thiếp ấy do quản gia đại bút. Về sau ta nhìn thấy bản nháp trong sọt rác của hắn, trên đó chỉ vẻn vẹn bốn chữ - “Phụng mệnh thành hôn.”
Phụng mệnh. Phụng mệnh của ai? Phụng mệnh phụ thân hắn, phụng mệnh “Nhất phẩm Thái phú cần một chính thất môn đăng hộ đối.”
Mà Triệu Hằng mang đến một đôi ngọc bội tự tay chạm khắc, một tấm thiếp cầu hôn tự tay viết nên, cùng chiếc bánh quế hoa bị giáp trụ đ/è nát.
Nhưng đó là vật chàng tự viết, tự khắc, tự giữ trong lòng sáu ngày sáu đêm, gi*t ch*t ba con tuấn mã để mang về.
Ta bước ra, cầm lên đôi ngọc bội.
“Triệu Hằng ca ca, ngày sau đừng khắc nữa, thiếp sợ người đời tưởng mình tuổi Tý.”
Chàng ngẩng đầu nhìn ta, ánh mắt rực lửa: “Vậy nàng có bằng lòng giá không?”
“Giá.”
Ta chọn ngày gần nhất, một tháng sau thành hôn.
Trong một tháng ấy, ta làm ba việc.
Việc thứ nhất, may xong con hổ vải cho An An. Kiếp này không có An An, nhưng ta vẫn may một con cất dưới đáy rương. Mắt hổ đều nhau, râu hổ dài bằng nhau, tai hổ được khâu chắc chắn. Ta còn may cho hổ một chiếc áo đỏ, thêu chữ “An” trên ng/ực.
Việc thứ nhì, viết cho Triệu Hằng một phong thư, kể hết bí mật tiền kiếp của mình.
Triệu Hằng xem xong thư, phi ngựa xông gió từ biên ải trở về, đêm trường vượt tường vào phủ Thẩm.
Chàng đứng bên song cửa sổ, mình đầm đìa mồ hôi và cát vàng, trên giáp trụ vẫn còn vết m/áu chưa lau sạch, mặt thêm một vết thương mới. Chàng thở gấp, nói một câu:
“Chuyện An An, kiếp này sẽ không xảy ra.”
Chàng không hỏi ta có đi/ên không, không nghi ngờ thư ta có đáng tin. Chàng chỉ nói, sẽ không xảy ra.
Ta qua cửa sổ hỏi chàng: “Chàng tin thiếp?”
Ngoài song cửa, chàng trầm mặc giây lâu.
“Kiếp trước khi nàng ch*t, có đ/au không?”
Nước mắt ta lập tức trào ra.
“Không đ/au,” ta nói dối, “chỉ thoáng qua là hết.”
“Dối lòng. Trâm vàng dài như thế, sao không đ/au. Da trên cổ mỏng manh, huyết quản chằng chịt, trâm vàng đ/âm vào, trước hết xuyên qua da, rồi đến mỡ, đến cơ, đến huyết quản. M/áu sẽ phun ra, nàng sẽ thấy lạnh, thấy buồn ngủ, thấy có người gọi tên, nhưng không nghe rõ. Nàng sẽ thấy đ/au, đ/au đến tận xươ/ng tủy. Đau hơn cả mất An An. Bởi khi nàng ch*t, bên cạnh chẳng có một ai.”
Ta mở cửa sổ. Chàng đứng ngoài kia, cúi đầu, vai run nhẹ.
Gió cát Tây Bắc không làm mềm được khí cốt chàng, đ/ao thương biên ải chưa từng khiến chàng nhíu mày, vậy mà một phong thư của ta, khiến vị tướng quân sắt đ/á này, dưới ánh trăng khóc như đứa trẻ thơ.
“Triệu Hằng, kiếp này thiếp gả cho chàng, chàng đừng uống rư/ợu một mình nữa.”
Chàng ngẩng đầu, mắt đỏ ngầu nhìn ta.
“Sao nàng biết ta uống rư/ợu?”
“Thiếp đoán thôi.”
“……Nàng đoán chuẩn thật.”
Việc thứ ba, ta dâng lên hoàng đế trong cung một mật tấu.
Nội dung thư rất đơn giản – phiên vương sắp tạo phản, Thái phó Cố Trường Yến cùng Quý phi Liễu Như Yên tư thông, thân thế nhị hoàng tử đáng ngờ.
Không chứng cứ, toàn là suy đoán.
Nhưng hoàng đế chẳng thiếu gì lòng nghi ngờ.
5
Ngày thành hôn, kinh thành tuyết rơi dày đặc.
Triệu Hằng mặc hồng bào hỷ phục, cưỡi ngựa cao lớn, sau lưng là ba ngàn quân thiết giáp. Ba ngàn binh giáp xếp hàng trong tuyết, tựa dòng sông thép.
Ta ngồi trong kiệu hoa, vén rèm liếc nhìn. Triệu Hằng trên lưng ngựa, ngoài hồng bào còn khoác giáp trụ, trông chẳng giống ai. Trên mặt vết thương mới dán cao, trên miếng cao vẽ một đóa hoa.
Thấy ta vén rèm, chàng nhe răng cười. Nụ cười ấy giữa trời tuyết tầm tã, ấm áp như ngọn lửa hồng.
Lúc bái đường, Triệu Hằng luôn nắm ch/ặt tay ta. Nắm ch/ặt đến mức ta cảm nhận được mạch đ/ập trong lòng bàn tay chàng, từng nhịp đ/ập nhanh hơn người thường. Lòng bàn tay chàng đẫm mồ hôi, mồ hôi nóng hổi, bỏng rát.
“Nhất bái thiên địa——” Khi chàng cúi lạy, chiếc áo đỏ dưới giáp trụ căng thẳng, lộ ra cổ tay với vài vết s/ẹo cũ.
“Nhị bái cao đường——” Chàng liếc nhìn ta, bị ta phát hiện, lập tức quay đầu đi, tai đỏ như tôm luộc.
“Phu thê đối bái——” Đối diện nhau. Chàng cúi nhìn ta, ánh mắt từ mái tóc dừng ở mi mắt, từ mi mắt xuống chóp mũi, từ chóp mũi đến đôi môi, cuối cùng quay về đôi mắt.
“Chiêu Ninh,” chàng thì thầm, “nàng đẹp lắm.”
Ta đỏ mặt trừng chàng: “Đang bái đường, đừng nói nữa.”
Chàng nhe răng cười, cười như chàng ngốc. Cười đến nỗi mắt đỏ hoe.
Sau hôn lễ ba ngày, trong cung truyền tin: Phiên vương tạo phản.
Sớm hơn kiếp trước hai năm chín tháng.
Triệu Hằng nhận được quân báo khi đang vẽ lông mày cho ta. Bàn tay quen cầm đ/ao thương, cầm bút kẻ lông mày vụng về khủng khiếp, vẽ ta thành Trương Phi. Xem quân báo xong, sắc mặt chàng biến đổi, đưa bút vào tay ta.
“Chiêu Ninh, ta phải đi.”
“Chàng cẩn thận,” ta sửa lại cổ áo cho chàng, “quân phản lo/ạn nhắm vào nhị hoàng tử, bọn chúng--”
Ta đột nhiên dừng lại. Kiếp này, Cố Trường Yến không cưới ta, hắn không có con trai. Nếu quân phản lo/ạn bắt nhị hoàng tử, hắn lấy gì để đổi?
“Sao vậy?”
“Không sao, chàng đi đi, thiếp đợi chàng về.”
Chàng cúi xuống hôn lên trán ta. Rất nhẹ, như lông chim chạm mặt nước. Rồi chàng quay đi, giáp trụ loảng xoảng, bước chân như gió.
Đến cửa, chàng bỗng ngoảnh lại: “Chiêu Ninh, bánh quế hoa ở trong tủ, mỗi ngày ăn hai cái, đừng ăn nhiều.”
Cánh cửa đóng lại.
Phương xa chân trời, tiếng pháo ầm vang.
6
Quân phản lo/ạn đến nhanh hơn dự tính. Triệu Hằng dẫn quân nghênh địch, ngoài thành giao chiến ba ngày ba đêm.
Ngày thứ tư, thành vỡ. Không phải Triệu Hằng thua, mà trong thành có người mở cổng nội thành.
Khi quân phản lo/ạn tràn vào kinh thành, ta đang ngồi trong hoa đường phủ tướng quân, tay nắm ch/ặt con hổ vải.