Trước giá sách dạo quanh mấy vòng, rốt cuộc ở góc tối cùng tìm được mấy quyển thoại bản tử, nào là "Mẫu đơn đình", "Tây sương ký", đều đã cũ nát, xem ra hắn cũng chẳng ít xem.
Nương tử ôm sách định đi, góc mắt thoáng thấy trong cùng giá sách có một cánh cửa nhỏ. Cửa cùng màu với giá sách, không nhìn kỹ căn bản không nhận ra. Khe cửa lọt ra một tơ hương trầm thoảng thoảng, khác hẳn mùi mực trong thư phòng.
Nương tử do dự.
Đó là chỗ của hắn.
Nương tử vào đó có ổn không?
Nhưng thoại bản tử đã xem nhiều như thế, cái tật lớn nhất của nương tử chính là hiếu kỳ. Thuở nhỏ ở nhà ngoại, chính vì hiếu kỳ trèo lên tổ chim mà ngã từ cây xuống, đầu gối rá/ch toạc, đến giờ vẫn còn s/ẹo.
Nương tử đứng trước cánh cửa, tự nhủ: chỉ liếc một cái thôi.
Cửa không khóa.
Bên trong là gian phòng nhỏ, không cửa sổ, chỉ dựa vào mấy ngọn đèn trường minh ở góc tường soi sáng. Ánh đèn vàng vọt như trời hoàng hôn.
Nương tử bước vào một bước, ngẩng đầu.
Rồi cả người đông cứng tại chỗ.
Trên tường treo đầy tranh.
Không phải sơn thủy, không phải hoa điểu, mà là chân dung một người.
Nương tử nhận ra người trong tranh.
Khuôn mặt đó, dáng người đó, tay áo thêu mấy đóa tiểu lan, là mẫu thân sai người thêu riêng.
Trong tranh, nương tử đang thả hoa đăng, ngồi xổm bên bờ sông, nghiêng mặt, khóe miệng hơi nhếch, như đang nói gì với người bên cạnh.
Vẽ cực kỳ tinh tế, ngay cả nốt ruồi nhỏ trên dái tai cũng hiện rõ.
Nương tử nhìn sang bên.
Bức thứ hai, nương tử tưới hoa trong sân.
Bức thứ ba, nương tử đi trên phố, tay cầm xâu hồ lô đường.
Bức thứ tư, nương tử trong xe ngựa vén rèm nhìn ra, chỉ lộ nửa mặt.
Hết bức này đến bức khác, treo kín bốn bức tường.
Có cảnh gần, có cảnh xa, có chính diện, có nghiêng mặt.
Có cảnh nương tử từng thấy, có cảnh nương tử hoàn toàn không nhớ đã bị vẽ lúc nào.
Có bức vẽ nương tử ngồi bên cửa sổ làm nữ công, cúi đầu, một lọn tóc buông xuống mai tóc.
Tay nương tử bắt đầu run.
Góc tường còn một chiếc rương lớn, nương tử không nhịn được, ngồi xổm mở ra.
Bên trong toàn cuộn tranh, xếp chỉnh tề từng cuộn một.
Những bức đó càng xưa hơn.
Trong tranh, nương tử búi tóc thiếu nữ, đứng dưới cây hòe, kiễng chân với con diều trên cây.
Đó là chuyện năm nương tử mười ba tuổi, trước cửa nhà ngoại.
Mười ba tuổi.
Năm mười ba tuổi nương tử còn chưa quen biết hắn.
Triệu Nhượng Chi lúc ấy hẳn đang đ/á/nh trận nơi biên ải, làm sao có thể——
Nương tử lại rút một cuộn.
Rồi một cuộn nữa. Một cuộn nữa.
Mỗi cuộn đều là nương tử.
Nương tử ở những tuổi khác nhau, nương tử trong những mùa khác nhau, nương tử trong những bộ y phục khác nhau.
Có tờ giấy đã ngả vàng, góc hơi cong, như đã để rất lâu rất lâu.
Dưới cùng ép một bức tranh nhỏ, chỉ to bằng bàn tay, vẽ một tiểu nữ hài ngồi xổm cho gà ăn, tóc buộc hai búi nhỏ, tròn trịa, nhìn chỉ độ năm sáu tuổi.
Năm sáu tuổi.
Năm năm tuổi nương tử ở nhà ngoại, nhà bác Ngưu Nhị bên cạnh nuôi một ổ gà con, nương tử ngày nào cũng đến cho ăn, ngoại nói nương tử muốn ngủ chung với gà.
Năm năm tuổi nương tử đã quen hắn rồi sao?
Nương tử ngồi xổm trước rương, đầu óc rối như tơ vò.
Chợt nhớ ra.
Cạnh nhà ngoại không chỉ có bác Ngưu Nhị, còn có một tòa đại trạch, cửa đóng quanh năm, chỉ mùa hè thỉnh thoảng có người đến ở.
Ngoại nói nhà đó họ Triệu, làm quan lớn ở kinh thành, thỉnh thoảng về nghỉ hè.
Có lần nương tử đào giun dưới chân tường, trên tường thò ra cái đầu cậu bé, mặt mũi lem luốc, như vừa đ/á/nh nhau xong.
Hắn nhìn nương tử đào giun, nhìn rất lâu, chợt nói một câu: "Nàng đào sai chỗ rồi, bên này đất cứng, bên kia mềm."
Nương tử ngẩng đầu nhìn hắn, thấy người này kỳ quặc, trên đầu còn dính lá cây.
Sau đó nương tử đào được giun, chạy đi cho gà ăn, ngoảnh lại nhìn thì hắn vẫn bám trên tường, nhìn theo.
Rồi sau hình như không gặp nữa.
Mùa đông năm đó ngoại dẫn nương tử về kinh thành, nói thôn quê lạnh quá, thể chất nương tử yếu, không chịu nổi.
Đó là Triệu Nhượng Chi?
Cậu bé mặt mũi lem luốc, đầu dính lá cây kia, là Triệu Nhượng Chi?