Nàng nói chữ "Du" ý chỉ nơi chốn. Nàng mong ta chẳng ưu sầu, có chỗ về."
Chàng tiếp lời hỏi: "Vậy nay, có thể tính là không ưu sầu, có chỗ về chưa?"
"Tính đi."
Ta nghe ra hàm ý trong lời chàng, e thẹn cúi đầu.
Chàng như chẳng thấy sự thẹn thùng của ta, vẫn cúi người lại gần.
"Vậy ta có Mạc Du rồi, cũng chẳng ưu sầu, có chỗ về."
Ta ngại ngùng không biết đáp sao, chỉ đưa miếng bột mì đã c/ắt sẵn vào tay chàng.
Hai sợi mì vê dài tung lên không trung, bỗng nhiên quấn vào nhau.
Ta cùng chàng nhìn đống bột trong tay, nhìn nhau mỉm cười.
Ngoài trời mưa chẳng biết từ lúc nào đã tạnh, ánh nắng lọt qua kẽ mây chiếu xuống ngói ẩm ướt, lấp lánh như pha lê.
Trong nhà bếp, hương mì kiều mạch hòa cùng mùi cỏ xanh sau mưa.
Ta chợt cảm thấy, mọi thứ thật tốt đẹp.
Cứ thế này mãi, thì hay biết mấy.
11
Sang thu, tiết trời ngày một lạnh dần.
Luống cải trắng trong vườn thu hoạch xong đợt cuối, ta muối hai vại dưa cải chua.
Lại phơi khô phần còn lại để dành mùa đông nấu thịt.
Cảnh Huyên giờ đây ngày ngày cùng ta quẩn quanh trong nhà bếp.
Trải qua mùa hè vất vả, chàng g/ầy đi nhiều.
Dáng người giờ đây có thể gọi là thon thả cân đối.
Hôm ấy, chàng đứng trong sân phơi rau khô, bỗng nói: "Mùa đông năm nay, đủ ăn rồi."
Từ quản gia vừa đi ngang, nghe thấy lời ấy lại đỏ hoe mắt.
Ta ngồi xổm dưới gốc quế nhặt hoa, giả vờ không thấy, nhưng trong lòng cũng chùng xuống.
Từ quản gia nhớ lại những ngày xưa cũ.
Trong phủ Bối lặc chỉ có một mình lão trông coi đứa trẻ không nói năng ấy, canh giữ sự vắng lặng khắp sân, đối mặt với tiết trời ngày một lạnh giá.
Nhưng giờ đã khác.
Sân viện này đã có khói lửa ấm áp, có tiếng người trò chuyện, có bóng dáng hai người sánh vai đứng trước bếp.
Ta cũng cảm khái lau nước mắt, nhớ về mùa thu trong cung.
Hoa quế ở phủ Bối lặc không nở sớm như trong cung.
Những năm trước, vào độ này ta đã chuẩn bị xong món bánh hoa quế mà Thái phi nương nương yêu thích.
Nương nương thường dẫn bọn cung nữ chúng ta dưới gốc quế ăn bánh, thưởng trăng thu.
Nàng nói ngày trước huynh trưởng và tẩu tẩu cũng thường dẫn nàng dưới sân ngửi hương thưởng nguyệt như thế.
Nàng bảo hoa quế trong phủ Bối lặc không được chăm sóc cẩn thận như trong cung, nở muộn, nhưng lại có mùi hương hoang dã hơn, cũng đậm đà hơn.
Không ngờ nay ta cũng được ngửi mùi hương ấy.
Khi ngắm trăng, Thái phi nương nương thường không tự chảy nước mắt.
Chúng ta hỏi nương nương sao lại khóc, nàng luôn bảo là nhớ huynh trưởng và tẩu tẩu.
Lúc ấy ta tưởng, vì nương nương vào cung khó gặp lại người nhà.
Vào phủ Bối lặc mới hiểu, huynh trưởng và tẩu tẩu của nương nương đã hóa thành cát bụi nơi biên ải.
Chẳng biết giờ đây nương nương tu hành trên núi Nhạc Tú đã được thưởng thức bánh hoa quế năm nay chưa.
Trước giờ ngủ, ta dò hỏi Cảnh Huyên:
"Chúng ta lên núi Nhạc Tú một chuyến nhé?"
"Nghe nói sắc thu núi Nhạc Tú đẹp lắm, ta lên đó thưởng ngoạn."
"Nhân tiện cũng thăm hỏi Thái phi nương nương."
Cảnh Huyên không cần suy nghĩ liền đồng ý.
Ngày lên đường, ta dậy sớm.
Bọc lớn bọc nhỏ thu xếp đủ thứ.
Bánh hoa quế đương nhiên không thể thiếu, còn có tô ty toàn phấn, bánh đậu xanh mà nương nương từng thích.
Lại đặc biệt làm một hũ cao lê mùa thu, nhuận phế chỉ khái, hợp nhất cho tiết trời này.
Khi thu xếp xong xuôi, Cảnh Huyên đã đứng đợi ngoài sân.
Chàng mặc chiếc áo dài màu đ/á xanh, do ta mới may cho chàng mấy hôm trước.
Người g/ầy đi, áo mặc vào cũng lộ rõ đường nét, vai là vai, eo là eo, đứng giữa ánh bình minh, phong thái tuấn tú.
Xe ngựa đã đợi sẵn trước cổng phủ.
Cảnh Huyên đỡ ta lên xe, bàn tay đưa ra gân guốc rõ ràng, không còn là miếng thịt Đông Pha b/éo ngậy ngày nào.
Chỉ một năm, mọi thứ đã đổi thay.
Ta vịn tay chàng, bước lên xe.
12
Núi Nhạc Tú ở ngoại thành kinh đô, chưa đầy nửa ngày đã tới nơi.
Núi không cao, nhưng cực kỳ u tĩnh.
Lá đỏ ngập núi, lớp lớp như được nhuộm bởi ráng chiều.
Am Thái phi tu hành ở lưng chừng núi, ngói xanh tường trắng, tĩnh mịch yên bình.
Chúng tôi tới nơi, Thái phi đang ngồi tọa thiền trong sân.
Lá đỏ bay lả tả, khi Thái phi mở mắt thấy hai người đứng sánh vai dưới gốc cây.
Nhìn kỹ, mắt Thái phi đã đẫm lệ.
Người đàn ông dưới gốc cây mặc áo dài màu đ/á xanh, dáng người thanh cao, mày mắt thanh tú, giống hệt huynh trưởng của nàng đã hi sinh nơi biên ải.
"Cô mẫu."
Cảnh Huyên bước tới hành lễ.
Tay Thái phi r/un r/ẩy, chuỗi tràng hạt suýt rơi xuống đất.
"Ngươi... ngươi gọi ta là gì?" Giọng nàng run run.
"Cô mẫu." Cảnh Huyên lặp lại, bước thêm hai bước.
"Cháu tới thăm cô mẫu."
Thái phi lập tức nước mắt tuôn rơi, nghẹn ngào nói:
"Đứa trẻ ngoan... cháu biết nói rồi... cháu biết nói rồi..."
Thái phi nắm tay Cảnh Huyên, nhìn đi nhìn lại.
Lúc thì sờ mặt, lúc lại nắn cánh tay, miệng không ngừng lẩm bẩm "g/ầy rồi", "cao rồi", "giống phụ thân cháu".
Một lúc sau, Thái phi mới bình tĩnh lại, quay sang nhìn ta.
Ta bước tới, thi lễ: "Thái phi nương nương."
Nàng kéo tay ta, lôi lại gần: "Phải gọi là cô mẫu."
Ta hơi ngại ngùng, nhưng vẫn gọi:
"Cô mẫu."
Thái phi đặt tay ta và Cảnh Huyên chồng lên nhau, nắm ch/ặt, liên tục nói hai chữ "tốt lắm".
"Hai đứa tốt với nhau, ta yên lòng rồi."
Ta cùng Cảnh Huyên đều gật đầu đáp ứng.
Tối hôm ấy, Thái phi giữ chúng tôi lại am nghỉ.
Ta xuống bếp làm mấy món chay.
Trên núi không tiện dùng đồ tanh, ta dùng đậu phụ và nấm làm mấy món.
Thái phi chỉ nếm một miếng đã nói vẫn là hương vị ngày xưa.
Cảnh Huyên ngồi bên ta, ăn uống im lặng, thỉnh thoảng gắp cho ta một đũa thức ăn.
Động tác của chàng tự nhiên như đã làm ngàn lần.
Thái phi nhìn chúng tôi, mắt lại rơm rớm, rồi mỉm cười gạt đi.
Sau bữa ăn, Thái phi bảo ta cùng nàng đi dạo tiêu thực.
Đêm thu trên núi lạnh lẽo, ta khoác cho Thái phi chiếc áo choàng, đỡ nàng đi chậm rãi.
Trăng sáng vô cùng, chiếu xuống bậc đ/á trắng xóa như phủ một lớp sương.
Ta do dự hồi lâu rồi cũng hỏi: