Hôm đó em mang bệ/nh tìm chị, lẽ ra chị cũng nên đến thăm em..."
Cô tiếp tục: "Trưởng khoa Lục nhờ chị đến an ủi em, việc ông ấy không nhắc nhở là sai. Để bù đắp, ông ấy sẵn sàng làm bác sĩ điều trị chính cho em, dù hiện chưa có phác đồ tốt, nhưng ông ấy muốn cùng em nỗ lực."
Cô vỗ tay tôi, nói tiếp: "Em Thanh Hòa, chị may mắn sống sót đây, chỉ cần có khí thế không đầu hàng, bệ/nh ta ắt có cách. Trưởng khoa Lục bảo em có dũng khí tự mổ cho mình, chỉ cần tích cực điều trị là có hy vọng."
"Nhưng có cách nào đâu? Trưởng khoa Lục bó tay, giáo sư Trần cũng vậy!" Tôi buồn bã thở dài.
"Hiện tuy chưa tìm được phác đồ tốt, ta có thể hóa trị thông thường trước, tạm kìm hãm tế bào u/ng t/hư... Theo chị, gen hai chị em ta hiện có hai người nghiên c/ứu, cứ tìm họ thôi. Hai ta vừa là bệ/nh nhân vừa là đối tượng nghiên c/ứu của họ, không tốt sao?"
"Ý chị là để trưởng khoa Lục và giáo sư Trần nghiên c/ứu hai ta, để họ chữa trị?"
"Ừ, chị đã khỏi bệ/nh mấy năm nay, sức khỏe ổn định, cứ để họ tiếp tục nghiên c/ứu tại sao 'Ruitanitinib' hiệu quả với chị, từ đó rút kinh nghiệm cho em!"
"Nhưng giáo sư Trần năm xưa vì 'Ruitanitinib' mà bị kỷ luật, ông ấy còn dám mạo hiểm tiếp sao?"
Lời Chu Diễm khiến tôi tỉnh ngộ nhưng cũng chất chứa lo âu.
12
Để chữa bệ/nh, để tiếp tục nghiên c/ứu, Lục Dĩ Ninh và tôi bay đến tận nơi thuyết phục giáo sư Trần. Cuối cùng ông đồng ý tiếp tục nghiên c/ứu, vui vẻ nhận lời mời.
Nhóm chống u/ng t/hư bốn người - đúng hơn là năm người - cuối cùng được thành lập.
Tôi và Chu Diễm là tình nguyện viên, trưởng nhóm vẫn là giáo sư Trần Duy Viễn, nghiên c/ứu viên là trưởng khoa Lục Dĩ Ninh, thành viên là trợ lý Cố Hoài của tôi.
Vì sự sống của bản thân, vì chiến thắng u/ng t/hư vú dạng gen, tôi quyết định hiến dâng chính mình.
Để không liên lụy người khác, theo yêu cầu của tôi, tôi cùng giáo sư Trần, trưởng khoa Lục ký giấy đồng ý miễn trừ trách nhiệm.
Phòng thí nghiệm đặt ngay trong phòng bệ/nh của Lục Dĩ Ninh.
Tôi quyết định dùng Ruitanitinib như liệu pháp bổ trợ sau mổ.
"Cô chắc chứ?" Giáo sư Trần hỏi, "Th/uốc này có đ/ộc tính. Tổn thương gan, đ/ộc tim, phát ban nghiêm trọng... Chu Diễm năm xưa cũng chịu đựng vất vả."
"Tôi chắc. Nếu NLRC5 là then chốt, thì tôi sẽ là người 'kích hoạt' nó."
"Cô định kích hoạt thế nào?"
"Tôi có cách. Là bác sĩ, tôi tra tài liệu - có nghiên c/ứu chỉ ra môi trường thiếu oxy ngắt quãng có thể tăng biểu hiện NLRC5. Tôi định kết hợp điều trị bằng buồng oxy cao áp."
Giáo sư Trần nhìn tôi hồi lâu, bỗng cười.
"Cô và Chu Diễm giống nhau, đều là kẻ không tin số phận."
Nhưng trưởng khoa Lục phản đối: "Ruitanitinib chỉ còn lô cuối, nguyên liệu đã ngừng sản xuất; hơn nữa qua bảy năm, th/uốc đã mất tác dụng."
Ông đưa ra hai tập hồ sơ, một báo cáo phân tích gen của tôi, một của Chu Diễm.
Ông đưa tập tài liệu cho tôi và giáo sư Trần, nói:
"Tôi phân tích gen cơ bản và gen khối u của Thanh Hòa, tìm điểm khác biệt; làm tương tự với Chu Diễm. Sau đó so sánh kết quả hai người, phân tích dị biệt. Đột biến GATA3 của họ khác nhau ở trình tự, nên điều chỉnh NLRC5 rất quan trọng. Vậy sau NLRC5 cần gì? Cần so sánh với ca lành bệ/nh kiểu gen khác, tìm điểm khác biệt rồi tích hợp gen, từ đó tìm phương pháp điều trị hiệu quả."
Trưởng khoa Lục nói như rót: "Như thế mới không mạo hiểm dùng 'Ruitanitinib'!" "Nhưng khối lượng công việc quá lớn, cần phân tích thử nghiệm nhiều, e rằng ba năm cũng không xong!" Tôi không nhịn được ngắt lời.
Trưởng khoa Lục cười: "Tôi đã làm lượng lớn công việc, hiện hoàn thành hơn một nửa."
"Nhờ AI, đưa thông tin vào để nó phân nhóm so sánh, phân tích sâu, tìm kết quả!"
Hướng đi của trưởng khoa Lục như x/é tan màn sương.
Thế là bắt đầu phân công, chia nhóm so sánh, phân tích khác biệt.
Chỉ hai ngày, mọi người hoàn thành tất cả dữ liệu và kết quả, tìm ra công thức phân tử mới điều trị đột biến GATA3, tất nhiên khoa học hơn "Ruitanitinib", nhưng cần thử nghiệm kiểm chứng.
Nhưng làm sao bào chế thành th/uốc?
13
Để được hội đồng đạo đức phê duyệt khó khăn biết bao!
Đang lúc bế tắc, giáo sư Trần vỗ đùi: "Hiện nay không phải đang có trào lưu 'đặt hàng cá nhân hóa' sao, ta cũng làm thế..."
Một câu giải quyết tất cả, chỉ sau một tuần vận động của giáo sư Trần, th/uốc mới đã trong tay.
Chúng tôi đặt tên th/uốc là "Thanh Hòa".
14
Tiếp theo, cần tôi thử nghiệm "Thanh Hòa".
Lúc này, giáo sư Trần và trưởng khoa Lục lại rút lui, không dám cho tôi dùng th/uốc mới, đề nghị dùng chuột bạch thử trước cho an toàn.
Nhưng cần thời gian, mà bệ/nh tình tôi không chờ được nữa, khối u đang á/c tính hóa, tế bào u/ng t/hư đang lan rộng.
Thế là tôi lén bắt đầu phác đồ "Thanh Hòa + buồng oxy cao áp".
Độc tính của "Thanh Hòa" kinh khủng hơn tưởng tượng.
Tuần đầu dùng th/uốc, toàn thân tôi phát ban dữ dội, từ mặt đến chân chi chít ban đỏ, ngứa đến mức thâu đêm không ngủ được. Tôi dùng kem bôi corticoid ức chế, nhưng hết ban lại mọc, tái đi tái lại.
Tuần thứ hai, chỉ số chức năng gan tăng gấp mười lần bình thường. Tôi tự kê th/uốc bổ gan, truyền tĩnh mạch hàng ngày, vừa truyền vừa đọc tài liệu.
Tuần thứ ba, tôi bắt đầu hồi hộp, tức ng/ực, rồi ngất xỉu. Điện tâm đồ cho thấy khoảng QT kéo dài, máy theo dõi rú còi báo động - dấu hiệu nguy hiểm nhất của đ/ộc tính tim, có thể gây đột tử.
Cố Hoài và y tá lao vào phòng điều trị, lập tức cấp c/ứu.
Sốc điện, ép tim, adrenaline... Dưới nỗ lực mọi người, tôi mở mắt.
Cố Hoài thấy tôi tỉnh, không kìm được quát lên: "Đủ rồi! Dừng th/uốc đi, hóa trị, xạ trị, hay đợi 'Thanh Hòa' thử nghiệm thành công trên chuột, đường nào chẳng được? Cứ đem mạng mình ra thử làm gì?"