Ta quay đầu lại.
Ánh nến soi rõ mặt hắn - mắt đỏ ngầu, có thứ gì đó lấp lánh.
Môi cắn ra m/áu.
Cả người như bị rút xươ/ng, dựa góc bàn chưa ngã.
Ta từng thấy nhiều người sụp đổ.
Tướng lĩnh thua trận, binh sĩ nghe tin người thân tử trận.
Nhưng chưa từng thấy thái tử, đứng trước mặt ta bằng tư thế này.
Ta quay mặt, nhìn ra ngoài trướng.
Ánh trăng lọt qua khe, rơi trên mũi ủng.
"Đêm đó, ta ngồi một mình đến rạng đông. Nến hồng ch/áy hết, không ai thêm."
Giọng ta đều đều, như kể chuyện người khác.
"Ta tháo từng chiếc trâm, mỗi lần tháo, tự nhủ: không sao."
"Không sao, hắn không đến."
"Không sao, ta còn đường khác."
"Không sao, ta không cần hắn."
Ta kéo tấm trướng.
Gió đêm ùa vào, ngọn nến chao đảo, suýt tắt.
"Khi tháo xong chiếc cuối cùng, ta nhận ra - thật sự không sao nữa rồi."
Ta bước ra khỏi trướng.
Sau lưng vang tiếng đục.
Là đầu gối quỵ xuống đất.
Ta không ngoảnh lại.
Ngoài trướng, Chu Định Bang và mấy thân binh đứng xa xa, mặt căng thẳng.
"Tướng quân -"
"Để hắn ở đó một lát."
Ta nói, "Rồi sai người đưa hắn về Trường An."
Ta đi vài bước, dừng lại.
Ngẩng đầu.
Bầu trời Bắc Cương thấp, sao to dày đặc như bạc vụn.
Gió thảo nguyên thổi tới, mang mùi cỏ khô và đất.
Ta hít một hơi sâu.
Khối u trong ng/ực mười lăm năm, cuối cùng - tan biến.
Ba ngày sau.
Trường An thành.
Thánh chỉ ban xuống: Phế thái tử Tiêu Hoài Cẩn, giáng làm thứ nhân.
Tội danh có ba: Đêm đại hôn nhục mạ hậu duệ công thần, khiến quân tâm d/ao động; Tự ý điều động Bắc tuyến thủ quân, can nhiễu bố trí biên phòng; Quản lý bất lực, sủng thiếp lo/ạn chính.
Liễu Thụy bị tước mọi tước hiệu, đuổi khỏi hoàng cung.
Nghe nói khi thánh chỉ đến Đông cung, Tiêu Hoài Cẩn không phản ứng.
Hắn ngồi trong thư phòng, trước mặt trải bức họa.
Thái giám đọc xong chỉ, hắn gật đầu.
"Biết rồi."
Giọng trống rỗng như giếng cạn.
Liễu Thụy phản ứng dữ dội.
Nàng chạy khỏi chính điện, quỳ giữa sân gào khóc.
Hét "Điện hạ c/ứu thiếp" "Thiếp từng đỡ đ/ao cho quý phi" "Các ngươi không được đối xử với thiếp thế này".
Không ai thèm để ý.
Triệu quý phi ngồi trong cung, nghe tiếng khóc Liễu Thụy vọng tới.
Bà nâng chén trà, tay run, nước trà đổ ra vạt áo.
Bà nhớ một tháng trước, tự tay viết thư cho Khương gia, cầu Khương gia giúp răn Liễu Thụy.
Lá thư ấy bị đ/ốt.
Bà đặt chén trà xuống, nhắm mắt.
"Là lỗi của ta." Bà khẽ nói, không biết nói với ai.
Ngày Liễu Thụy bị đuổi khỏi cung, không có xe ngựa đến đón.
Nàng mặc áo vải, ôm bọc đồ, loạng choạng đi qua phố Chu Tước.
Người qua đường nhận ra - "Không phải thứ phi thái tử sao?" "Thứ phi gì, bị phế rồi!" "Chà, tạo nghiệp."
Nàng cúi đầu, bước càng lúc càng nhanh.
Góc bọc tuột ra, rơi chiếc trâm vàng, loảng xoảng trên phiến đ/á.
Nàng cúi xuống nhặt, ngón tay chạm trâm, một bàn chân giẫm lên. Là vó ngựa qua đường.
Chiếc trâm bị giẫm méo.
Liễu Thụy ngồi xổm, nắm trâm cong, môi run lẩy bẩy, cuối cùng gục xuống đất, gào lên tiếng thảm thiết.
Không ai dừng lại.
Người qua lại Trường An lượn qua nàng, như nước vòng qua hòn đ/á.
[Chương 10]
Ngày thứ mười lăm sau đại thắng.
Ta đứng trên thành Bắc Quan, trước mặt là Đồng Bích Khẩu đã tu sửa.
Vách đ/á hai bên cửa ải ch/áy xém, đen kịt.
Trên mặt đất còn x/á/c tên, bị cát vùi nửa.
Công binh doanh dưới kia sửa phong hỏa đài, tiếng búa đ/ập đ/á vọng lên.
Nhịp điệu đều đặn, như nhịp tim.
Chu Định Bang đứng sau lưng.
"Tướng quân, Trường An gửi thư đến."
Ta nhận ống tin, vặn nắp, rút thư.
Là thư tay hoàng thượng.
Không phải thánh chỉ, là thư riêng.
Nội dung rất ngắn:
"Trấn Bắc tướng quân Khương Lệnh Nghi công lao hiển hách, trẫm muốn phong Trấn Bắc hầu, thực ấp ba ngàn hộ. Lại ban thảo nguyên vạn khoảnh phía bắc Bắc Quan, làm cơ nghiệp Khương gia đời đời. Ý tướng quân thế nào?"
Ta lật mặt sau xem.
Để trắng.
"Bút."
Chu Định Bang đưa bút, ta viết một dòng:
"Thần tiếp chỉ. Bắc tuyến còn việc tồn đọng, cho phép thần xử lý xong về triều tạ ơn."
Gấp lại, nhét vào ống tin.
Chu Định Bang cầm ống tin, do dự.
"Tướng quân... còn một bức nữa."
Hắn móc từ ng/ực ra phong thư, không đề tên, không ấn chương.
Nhưng chỗ niêm phong dùng sáp đóng, trên sáp in dấu vân tay - không phải ấn quan phương nào.
Ta liếc nhìn.
Nhận ra dấu vân tay đó.
Của Tiêu Hoài Cẩn.
Ta cầm phong thư, ngón tay xoa đường vân sáp.
Chu Định Bang khéo léo lùi vài bước.
Trên thành lầu chỉ còn mình ta.
Gió lớn, góc thư bị thổi bay.
Ta đứng rất lâu.
Lâu đến mức công binh dưới thành đổi ca.
Rồi ta đi đến bên đài phong hỏa.
Trong lò lửa còn tro tàn chưa tắt.
Tro bị gió thổi lên, xoáy trong không trung.
Ta đặt phong thư lên mép lò.
Không đ/ốt.
Cũng không mở.
Cứ để đó.
Gió thổi phong thư nghiêng ngả, như con chim giấy muốn bay mà không cất nổi.
"Tướng quân?" Tiếng Chu Định Bang vang sau lưng.
Ta tháo từ thắt lưng vật tín - con dấu riêng mười năm qua dùng liên lạc với tướng sĩ biên quan, ấn đồng nhỏ, khắc chữ "Khương".
Mười năm, góc cạnh đã mòn nhẵn, lớp patina xanh lấp đầy nét khắc.
Ta nắm ch/ặt trong lòng bàn tay.
Hơi lạnh kim loại thấm vào da, lạnh đến tận xươ/ng.
Rồi ta buông tay, gài lại thắt lưng.
Phong thư vẫn nằm trên mép lò.
Ta nhìn lần cuối.
Rồi đưa tay -
Khơi lớp tro tàn sắp tắt.
Dưới tro lộ vài đốm than hồng.
Ta rút từ đống củi bên cạnh một cành thông nhỏ, châm lửa.