Cảnh sát Lưu nhìn tôi rất lâu. Tôi co rúm trong vòng tay Chu Kiến Quốc, tay nắm ch/ặt cây kem chưa ăn hết, kem bơ chảy đầy tay.
"Cháu tên gì?"
"Chu Kiến Quốc."
"Nơi làm việc?"
"Công trường, khuân vác. Tháng sau tới đó coi lò, có chỗ ở ổn định."
Cảnh sát Lưu gập cuốn sổ lại, rút từ ngăn kéo ra một tờ giấy.
"Thỏa thuận nuôi dưỡng tạm thời. Anh ký vào, hàng tháng đưa cháu đến báo cáo, chấp nhận kiểm tra đột xuất. Có chỗ trống phải đưa đi ngay, đây là giới hạn cuối."
Chu Kiến Quốc cầm bút, tay run bần bật, ở mục "Người giám hộ" ng/uệch ngoạc viết tên mình.
"Cảm ơn đồng chí! Cảm ơn đồng chí!"
"Đừng cảm ơn tôi," cảnh sát Lưu cất tờ giấy vào ngăn kéo khóa lại, "Tôi làm trái quy định đấy. Nhưng tối nay trại trẻ thực sự không còn chỗ. Anh nhớ kỹ, đứa bé này là của nhà nước, không phải đồ anh m/ua."
"Tôi hiểu, tôi hiểu." Chu Kiến Quốc bế tôi bước ra, lại ngoảnh lại, "Đồng chí, mẹ ruột nó... nếu đến tìm thì sao?"
"Chúng tôi sẽ ghi nhận, sẽ tìm. Nhưng sáu năm rồi, loại án này, tìm được không nhiều."
Chu Kiến Quốc gật đầu, đỡ tôi lên, lấy chiếc áo công nhân bạc màu bọc kín người tôi.
"Niệm Niệm," giọng ông rất khẽ, như sợ kinh động điều gì, "Ta có nhà rồi."
Tối hôm đó, trong lán công nhân, ông dùng gạch kê cho tôi một "chiếc bàn". Tôi ngồi lên đó, chống cằm viết bài. Ông ngồi bên châm điếu th/uốc rẻ tiền, lặng lẽ nhìn.
Trong làn khói mờ ảo, ông rút từ túi áo ng/ực ra tờ giấy biên nhận báo cảnh sát, dùng ngón tay thô ráp xoa xoa rất lâu, rồi cẩn thận cất đi.
Về sau tôi mới biết, ông sợ mất tờ giấy này, tôi lại thành đứa trẻ vô danh.
06
Năm tôi vào tiểu học, Chu Kiến Quốc đổi việc.
Ở đó coi lò, ca đêm, một tháng một ngàn hai.
"Ở đó yên tĩnh," ông vác tôi lên lưng, dùng chiếc áo công nhân bạc màu bọc kín, "Không ai cấm tao mang theo con."
Phòng đ/ốt lò ầm ầm, rung đến ù tai. Ông dùng vài viên gạch đỏ xếp ở góc làm "chiếc bàn" cho tôi ngồi học. Mùi khói than hòa lẫn mùi mực rẻ tiền, cùng thứ mùi lạnh lẽo đặc trưng nơi ấy không bao giờ tan, là hương vị quen thuộc nhất thời thơ ấu của tôi.
Đôi khi đang học thuộc bài nửa chừng, phía xa đại sảnh tiễn biệt bỗng bật lên tiếng khóc.
Chói tai, x/é lòng, như muốn hét ra cả gan phổi.
Tôi gi/ật mình co rúm, bịt ch/ặt tai.
"Đừng bịt."
Giọng Chu Kiến Quốc vang lên giữa tiếng ầm ầm. Ông dừng xẻng xúc than, ánh lửa lò đỏ rực chiếu lên nửa khuôn mặt đẫm mồ hôi lấm đầy muội than.
"Đời người, chỉ khóc được mấy lần." Ông quay nhìn tôi, đôi mắt đỏ ngầu vì khói lửa ánh lên nỗi buồn bình thản, "Con phải nghe, để biết sống tốt thế nào."
Năm đó tôi tám tuổi. Ông dạy tôi bài học đầu tiên:
Nghe người khác khóc, hiểu mình đang sống.
Đêm khuya, lò vẫn phải đ/ốt liên tục.
Ông xúc than, tôi đọc sách. Mỏi rồi, tôi gục xuống "chiếc bàn" ngủ.
Ông sẽ đắp chiếc áo khoác quân đội duy nhất lên người tôi, tự mặc áo mỏng, ngồi trên chiếc ghế nhỏ bên cạnh, châm điếu th/uốc rẻ nhất, lặng lẽ ngắm ngọn lửa.
Có đêm nửa tỉnh giấc, tôi thấy ông vẫn ngồi đó.
Lưng gù, đầu th/uốc lập lòe trong bóng tối. Ánh lửa đỏ nhảy nhót trên khuôn mặt ông, nửa kia chìm trong bóng tối.
"Ba, sao ba không ngủ?"
"Ba không buồn ngủ," ông quay lại cười, muội than trên mặt bị mồ hôi xóa thành vệt, "Con cứ ngủ đi."
Về sau tôi mới biết, không phải ông không buồn ngủ.
Ông sợ ngủ quên, lửa tắt, những người đang "lên đường" sẽ lạnh.
Cũng sợ lán tr/ộm vào, hoặc ch/áy n/ổ – lán công nhân từng ch/áy, th/iêu ch*t cả nhà ba người.
Cả đời ông, sống trong nỗi sợ thấp thỏm.
Có lần tôi giả vờ ngủ, hé mắt nhìn ông.
Ông rất lâu không động đậy, chỉ chăm chú nhìn ngọn lửa. Rồi từ túi áo ng/ực, ông rút ra tờ biên nhận báo cảnh sát được bọc ba lớp ni lông.
Dưới ánh lửa lò, ông dùng ngón tay thô ráp, nhẹ nhàng, chậm rãi xoa lên con dấu đỏ.
Nhìn rất lâu, lại cẩn thận gói kỹ, cất đi.
Lúc ấy tôi không hiểu. Về sau mới biết – ông đang x/á/c nhận, x/á/c nhận trên thế gian này, còn có một nơi, một người, thực sự thuộc về mình.
Ông sợ ngọn lửa này tắt, tờ giấy này mất, mình lại hóa thành kẻ vô danh.
07
Ngày 8 tháng 6, môn thi cuối cùng kết thúc.
Tôi bước ra khỏi phòng thi, nắng chói chang. Cổng trường chật ních phụ huynh, giơ hoa, cầm nước, gọi tên con.
Tôi không tìm ông. Tôi biết ông không đến – ông nói bên đó không xin được nghỉ, coi lò phải có người trông.
Tôi tự đi xe buýt về nhà, trên đường m/ua tờ báo chiều, in đáp án thi đại học. Tôi đối chiếu một lượt, cảm thấy ổn.
Mở cửa, trong lán yên ắng lạ thường.
"Ba?"
Không ai đáp.
Tôi bước vào, thấy ông nằm nghiêng trên giường xếp, đắp chiếc áo khoác quân đội cũ. Tôi tưởng ông ngủ, đến gần mới phát hiện khóe miệng ông dính m/áu, đã khô, đóng thành vảy nâu.
Tay ông nắm ch/ặt tờ báo nhàu nát, là báo hôm nay, in danh sách dự đoán thủ khoa tỉnh, tên tôi đứng đầu.
Ông nghe tiếng động, mí mắt gi/ật giật, mở ra. Thấy tôi, muốn cười, khóe miệng vừa nhếch, m/áu lại trào ra.
"Niệm Niệm," giọng ông như bễ rá/ch, hơi thở yếu ớt, "Ba đợi được rồi."
Đó là lần cuối tôi nghe ông nói.
08
Ba ngày sau khi công bố điểm thi.
Tôi ngồi trên giường xếp, nhìn tấm giấy báo nhập học Đại học Thủy Mộc dán đầy băng dính trên tường.
Nhìn tờ thông báo đuổi nhà của chủ nhà dán trước cửa.
Nghe từ xa vẳng lại tiếng cười nói thô lỗ của chủ n/ợ lão Trương.
Tương lai Chu Kiến Quốc đ/á/nh đổi mạng sống giành cho tôi, đang bị người ta bóp ch/ặt.
Đống hỗn độn ông để lại sau khi ch*t, tôi không gánh nổi.
Còn người đã vứt bỏ tôi mười hai năm trước, giờ đang mỉm cười đứng nơi lối thoát duy nhất, chờ tôi bước tới.
Tiếng rung điện thoại, trong căn lán ch*t lặng càng thêm chói tai.
Màn hình sáng lên, một số lạ từ Bắc Kinh.
"Xin chào, có phải bạn Trần Niệm không? Đây là văn phòng tuyển sinh Đại học Thủy Mộc.