Tôi không ngoái đầu.
Phòng chờ đầy người, có người cả nhà lỉnh kỉnh về nước, có người đeo ba lô đi du học, cũng có người như tôi - một mình, một ba lô, hai chiếc vali, một vé máy bay một chiều.
Khi máy bay cất cánh, tôi tựa vào cửa sổ, ngắm ánh đèn Thượng Hải ngày càng xa, càng nhỏ, cuối cùng biến thành một vệt sáng mờ.
Người ngồi cạnh là một bác gái người Hoa khoảng năm mươi tuổi, về Vancouver thăm thân, thấy tôi đi một mình, bèn bắt chuyện.
"Cô bé, lần đầu đến Canada hả?"
"Dạ."
"Một mình à?"
"Một mình."
Bác ấy nhìn tôi một cái, hình như đoán ra điều gì trên mặt tôi, không hỏi thêm nữa.
Chỉ là trước khi xuống máy bay, dúi vào tay tôi một tờ giấy, trên đó viết số điện thoại của bác.
"Ở Vancouver có việc gì, có thể tìm cô."
Tôi nhận tờ giấy, nói tiếng cảm ơn.
Ngày đáp xuống Vancouver là hai giờ chiều giờ địa phương.
Tháng Mười ở Vancouver, lá phong đỏ rực.
Tôi kéo vali ra khỏi nhà ga sân bay, hít một hơi thật sâu.
Trong không khí có một mùi lạnh trong, xa lạ, tự do.
Tôi thầm nói trong lòng một câu: Trần Tịnh, mày tự do rồi.
Chương 3
Ba tháng đầu ở Vancouver, tôi sống như một cái máy lên dây cót.
Đặt chân ở Richmond - một thành phố đông người Hoa đến mức có thể sống chỉ dùng tiếng Trung.
Thuê một căn phòng hầm, tiền thuê tám trăm gia tệ một tháng, cửa sổ chỉ tí hon bằng bàn tay, có thể nhìn thấy những bước chân người qua lại.
Chủ nhà là người Quảng Đông, họ Hoàng, một nhà ba người sống trên lầu, phòng hầm cho thuê để bù đắp chi phí.
Bà Hoàng ngay ngày đầu tiên đã bắt tôi ký hợp đồng một năm, còn thu nửa tháng tiền đặt cọc của tôi.
Tôi không có gì bất mãn.
Ở Hàng Châu tôi từng sống những nơi còn tệ hơn.
Ổn định chỗ ở xong, tôi bắt đầu đi/ên cuồ/ng tìm việc.
Tiếng Anh IELTS của tôi trước đây thi được 8777, giao tiếp hàng ngày không vấn đề gì, nhưng chưa có kinh nghiệm làm việc tại Canada, tìm việc đúng ngành ngoại thương không dễ dàng.
Tôi gửi hơn một trăm lá đơn, nhận ba bốn chục cuộc điện thoại, phỏng vấn bảy tám công ty.
Tháng đầu tiên, mỗi sáng tôi ra ngoài lúc tám giờ, đeo ba lô đầy hồ sơ, ngồi SkyTrain chạy qua chạy lại giữa Vancouver, Burnaby, Surrey.
Có ngày phỏng vấn hai công ty, sáng một chiều một, trưa ngồi ở McDonald's hai tiếng, gọi một ly cà phê để dùng ké mạng.
Sang tháng thứ hai, tôi nhận được hai lời mời làm việc.
Một là làm nhân viên theo dõi đơn hàng cho một công ty thương mại ở Burnaby, lương mười tám gia tệ một giờ.
Hai là làm chăm sóc khách hàng cho một công ty logistics người Hoa ở Richmond, lương mười bảy gia tệ một giờ.
Tôi chọn cái trước.
Lương tuy không cao, nhưng ít nhất đúng với chuyên ngành của tôi, hơn nữa công ty có không gian thăng tiến.
Ngày đầu tiên đi làm, tôi đứng trước cửa công ty, ngắm mình trong cửa kính chỉnh trang lại quần áo.
Bên trong là áo sơ mi trắng, bên ngoài là chiếc áo vest đen m/ua từ cửa hàng đồ cũ, tổng cộng chưa đến năm mươi gia tệ.
Nhưng con người trong gương đó, ánh mắt sáng bừng.
Sau khi công việc ổn định, tôi bắt đầu hoạch định bước tiếp theo.
Mục tiêu của tôi là m/ua nhà.
Không phải loại nhà to mấy trăm mét vuông, mà là một căn chung cư nhỏ, dù chỉ năm mươi mét thôi, miễn là thuộc về chính tôi.
Tôi tính một bài toán: hiện tại lương tôi mười tám một giờ, làm toàn thời gian, một tháng sau thuế khoảng hơn hai nghìn bốn trăm gia tệ.
Cộng với số tiền tôi mang theo trước đây - b/án xe và tiết kiệm được ba mươi vạn tệ, quy ra gia tệ khoảng năm vạn tám.
Ở Vancouver, số tiền này đặt cọc thôi cũng chưa đủ.
Nhưng tôi biết một đạo lý: tiền không phải chắt bóp mà có được, mà là ki/ếm ra.
Tôi bắt đầu liều mạng tăng ca, chủ động nhận thêm dự án phụ, cuối tuần còn làm hai việc b/án thời gian - làm chăm sóc khách hàng cho một hãng thương mại điện tử xuyên biên giới, dạy tiếng Anh cho con một gia đình người Hoa. Thời gian đó mỗi ngày tôi chỉ ngủ năm tiếng, quầng thâm nặng như bị ai đ/ấm hai cú.
Nhưng tôi chịu được.
Ở Hàng Châu tôi cũng từng như thế này.
Sang tháng thứ tư ở Vancouver, tôi nhận được một tờ biên lai chuyển tiền ngân hàng từ trong nước.
Là mẹ tôi chuyển tới, hai vạn tệ.
Lời nhắn chỉ có bốn chữ: "Cho con tiêu vặt."
Tôi nhìn bốn chữ ấy rất lâu.
Tiêu vặt.
Hai vạn tệ, tiêu vặt.
Từ nhỏ đến lớn, mẹ tôi chưa bao giờ cho tôi cái gọi là "tiêu vặt".
Lúc tôi học cấp ba, tiền sinh hoạt mỗi tháng ba trăm tệ, anh trai tôi học sửa chữa ô tô ở huyện, mỗi tháng mẹ tôi cho nó một nghìn năm.
Lúc tôi học đại học, học phí là v/ay trợ cấp, tiền sinh hoạt là tôi làm thuê ở nhà ăn trường.
Sau khi đi làm, mỗi tháng gửi về nhà hai nghìn, mẹ tôi chưa từng nói một chữ "không".
Giờ bà đột nhiên chuyển cho tôi hai vạn tệ, nói là cho tiêu vặt.
Tôi không nhận.
Chuyển khoản tự động hoàn trả.
Hôm sau, mẹ tôi liền gọi điện tới.
"Tịnh Tịnh, sao con không nhận tiền?"
"Mẹ, con không thiếu tiền, mẹ để mà tiêu đi ạ."
"Con này, mẹ cho con tiền mà con còn không lấy? Ở nước ngoài vất vả, mẹ thương con."
Tôi suýt bật cười.
Thương tôi?
Khi ký giấy từ bỏ quyền thừa kế sao không thương?
Khi ba căn nhà đều cho anh trai sao không thương?
Nhưng tôi biết, hai vạn tệ này không phải "thương", mà là thăm dò.
Bà đang thử xem tôi có thực sự đoạn tuyệt qu/an h/ệ với họ không.
Bà đang thử xem sợi dây tôi này còn kéo về được không.
Tôi không vạch trần bà, chỉ thản nhiên nói: "Mẹ, thực sự không cần đâu, con tự nuôi sống được mình."
Cúp máy xong, tôi ngồi bên dưới ô cửa sổ tí hon, nhìn những bước chân khách qua đường đi tới đi lui.
Một đôi giày thể thao, một đôi giày cao gót, một đôi giày da, một đôi giày trẻ con.
Người đến người đi, mỗi người mỗi ngả.
Sang tháng thứ sáu ở Vancouver, xảy ra một chuyện lớn.
Anh trai Trần Lỗi sắp lấy vợ.
Đối tượng là một nữ công nhân cùng nhà máy, họ Tôn, người bản địa, nhà mở một tiệm tạp hóa nhỏ.
Đòi hai mươi vạn tiền sính lễ, không thiếu một đồng.
Khi mẹ tôi gọi điện cho tôi, giọng nói mang theo một sự đường hoàng kỳ lạ.