Ta là một con chim sẻ, bị một tiểu sa-di nhặt được.
Người ấy đã tụng kinh cho ta suốt một đời.
Líu lo còn ồn ào hơn cả ta.
Nhưng một ngày kia, người ấy lặng lẽ ngồi trên đài cao, ta mổ tay người thế nào, người cũng không động đậy.
Bỗng nhiên, trời đổ mưa lớn.
Bá tánh quỳ dưới đất dập đầu, đều nói người ấy đã thành Phật.
01
Ta là một con chim sẻ nhỏ.
Không nhớ sao lại rơi khỏi tổ.
Chỉ nhớ đất rất cứng, ta ngã đến ngất đi.
Lúc tỉnh dậy, một bàn tay lớn đang nâng đỡ ta.
Ta nằm trên đó, toàn thân đ/au run cầm cập, cánh vỗ chẳng nổi.
Chủ nhân bàn tay là một tiểu đầu trọc, mặc áo cà sa xám xịt, trên đầu trọc còn mấy vết s/ẹo.
Người ấy giơ ta lên trước mắt, nghiêng đầu nhìn hồi lâu, cười toe toét: "Tiểu đồ vật, ngươi từ đâu rơi xuống?"
Ta chỉ biết kêu chíp chíp.
Người ấy ngẩng đầu nhìn ngọn cây, có lẽ không tìm thấy tổ ta, bèn bỏ ta vào tay áo.
"Sau này theo ta nhé, ta tụng kinh cho ngươi nghe."
Ta co mình trong đó, thầm nghĩ: Tụng kinh? Là cái gì vậy? Ăn được không?
Về sau ta mới biết, tụng kinh không ăn được.
Nhưng ta đã nghe suốt cả một đời.
02
Người ấy tên là Tịnh Không.
Là tiểu sa-di nhỏ nhất trong ngôi chùa hoang trên núi này.
Năm ấy người bảy tuổi, ta vẫn là một chim non, bay còn chẳng biết, suốt ngày ngửa cổ chờ đút.
Chùa rất rá/ch nát, tượng Bồ T/át sơn vàng đã tróc hết, lộ ra cốt đất bên trong, trông thật tội nghiệp.
Lư hương quanh năm chẳng mấy nén nhang, bàn thờ g/ãy một chân, kê gạch, xiêu vẹo.
Lão hòa thượng chỉ còn một con mắt.
Ngày ngày ngồi trước Phật gõ mõ, từ sáng gõ đến tối, gõ đến nỗi đầu ta muốn vỡ.
Tịnh Không tìm cho ta cái đáy bát vỡ làm tổ, lót mấy cọng rơm, đặt ta dưới khám Phật, mỗi ngày đều thấy đôi bàn chân đen thui to tướng.
Lão hòa thượng thấy vậy, dùng gậy chọc chọc đầu Tịnh Không: "Trong chùa không nuôi đồ vô dụng."
Tịnh Không ôm đầu nói: "Sư phụ, nó không phải đồ vật, nó là sinh mạng sống. Nó bị thương vì ngã, đệ tử không c/ứu, nó sẽ ch*t."
Ta vội kêu một tiếng, tỏ ý tán thành.
Lão hòa thượng hừ một tiếng, không quản nữa, tiếng mõ lại vang lên.
Tịnh Không mỗi ngày đút cho ta từng hạt gạo.
Người nhai nát gạo, dùng đầu lưỡi đẩy ra, bôi lên mỏ ta.
Thuở đầu ta không ăn, người bèn ngâm hạt gạo trong nước, cho mềm, rồi dùng que nhỏ đưa đến bên mỏ ta.
"Tiểu sẻ con, ăn đi ăn đi, ăn mới lớn được."
Ta chợt nhớ ra một chuyện.
Cha ta, mẹ ta, họ cũng là chim sẻ.
Khi ta chưa mở mắt, họ ngày ngày ra ngoài tìm mồi, trở về, cũng mớm mồi từ miệng sang miệng cho ta.
Chỉ là có một ngày, họ không trở về.
Trước khi bay đi, họ nói đi tìm cách "thành tiên".
Ta hỏi họ vì sao muốn thành tiên.
Cha mẹ thình lình mổ vào trán ta: "Con ngốc quá! Thành tiên rồi thì chẳng còn lo bị chim ưng rượt!"
Nhưng khi đó còn quá nhỏ, không biết "thành tiên" là ý gì.
Hỏi lão chim khách già bên cạnh tổ, lão khách liếc ta một cái, nói: "Thành tiên là biến thành chim lớn, bay lên trời, không bao giờ về nữa."
Ta không tin.
Cha mẹ sẽ không không trở về.
Họ chỉ đi tìm cách thôi.
Đợi họ tìm được, sẽ về đón ta, cùng nhau biến thành chim lớn.
Kết quả chưa đợi được họ về, ta lại rơi khỏi tổ trước.
Tịnh Không lại dùng que đưa một hạt gạo đến mỏ ta.
Ta mổ một cái, trong lòng nghĩ: Thành tiên, có phải là trở nên to lớn hơn?
Lớn như chim ưng? Như chim nhạn?
Vậy phải ăn bao nhiêu gạo đây.
Ta cúi đầu ra sức mổ gạo.
Tịnh Không thấy ta ăn dữ, cười nói: "Chậm thôi chậm thôi, không ai giành với ngươi đâu."
Ta mặc kệ người.
Ta phải mau lớn.
Lớn rồi, mới đi tìm cha mẹ.
Tìm được cha mẹ, mới biết cách thành tiên.
Còn thành tiên rồi đi đâu, lão khách nói bay lên trời.
Trên trời có gì?
Ta không biết.
Nhưng Tịnh Không nói, lúc tụng kinh, Phật Tổ ở trên trời.
Phật Tổ hình dáng thế nào?
Tịnh Không chỉ vào pho tượng sơn vàng đã tróc trên khám Phật.
Ta nhìn, chẳng hiểu. Một thứ không nhúc nhích, có gì đáng bái?
Nhưng Tịnh Không ngày nào cũng bái, bái rất thành kính.
Có một hôm ta không nhịn được hỏi người: "Chíp chíp chíp?"
Ngươi bái nó làm gì?
Người không để ý đến ta, chỉ chậm rãi nhắm mắt, gõ mõ.
Ta nằm trên vai người, nghe tiếng ấy, bỗng thấy lòng an tâm.
Thôi, chuyện thành tiên, để sau hãy nói.
Ăn gạo trước đã.
03
Ta rốt cuộc đã lớn hơn chút.
Mọc đủ lông cánh, không còn là con chim trụi lông trơn tuột.
Cũng đã vỗ cánh được, dù bay không cao lắm, nhưng ít nhất có thể từ khám Phật bay lên vai Tịnh Không, khỏi phiền người mỗi lần cúi xuống vớt ta.
Lúc Tịnh Không tụng kinh, ta liền đậu trên vai người.
"Quán Tự Tại Bồ T/át hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách."
Líu lo líu lô, chim chóc nghe không hiểu.
Nhưng ta thấy giọng người rất hay.
Như tiếng suối trong khe núi, từ đầu non này chảy sang đầu non kia, lại từ đầu non kia chảy về.
Chảy đến nỗi mắt ta nặng trĩu, đầu gật gù, mấy phen suýt rơi khỏi vai người.
Lão hòa thượng đôi khi ngắt lời: "Tịnh Không, ngươi tụng kinh thì tụng kinh, trên vai đậu con chim thành bộ dạng gì?"
Tịnh Không đáp: "Sư phụ, nó cũng nghe hiểu ạ."
Lão hòa thượng trừng mắt nhìn ta: "Một con chim thì hiểu được cái gì?"
Tịnh Không xoa đầu, cười nói: "Nó hiểu chứ! Người xem nó, ngày nào cũng không bay đi."
Điều này thì đúng thật.
Ta quả tình chưa từng bay đi, chủ yếu là vì chưa học được cách bay xa.
Lão hòa thượng lại hừ một tiếng, quay sang gõ mõ.
Ta ở trong chùa đã rất lâu.
Học được bay, học được bắt sâu, học được sáng sớm tinh mơ dùng mỏ gõ cửa sổ gọi Tịnh Không dậy.
Những hôm người nằm lì, ta liền mổ lớp giấy dán cửa, cốc cốc cốc cốc, cùng nhịp với tiếng mõ.
Lần nào Tịnh Không cũng bị ta làm cho tỉnh, đầu tóc rối bù như tổ quạ, mơ mơ màng màng ra mở cửa.
"Tiểu đồ vật, trời còn chưa sáng mà..."
Ta mặc kệ, chim đói bụng.
Tịnh Không đã cao hơn một chút, vẫn g/ầy như que củi.
Người bây giờ sáng dậy việc đầu tiên không phải tụng kinh, mà là cho ta ăn gạo.
Sau đó ra giếng kéo nước, bổ củi, quét sân.
Lão hòa thượng tuổi đã cao, việc trong chùa đều do một mình người ấy làm.
Đôi khi ta muốn giúp người tha ít củi, nhưng thanh củi kia còn lớn hơn cả ta, tha không nổi.
Có lần tha thử, suýt g/ãy mỏ, đ/au đến nỗi ta kêu la om sòm.
Tịnh Không ngồi xuống, nhẹ nhàng rút thanh củi khỏi mỏ ta, xoa xoa đầu ta.
"Ngốc điểu, được rồi, ngươi chỉ cần gọi ta là được."
Một ngày kia, từ dưới núi có một phụ nhân bế đứa trẻ, quỳ trước cổng chùa mà khóc.
"Xin sư phụ c/ứu lấy con ta, nó không qua nổi nữa rồi."
Đứa trẻ mặt sốt đỏ bừng, môi khô nứt, mắt không mở nổi.
Tịnh Không ngồi xuống xem xét, nói: "Ta không biết chữa bệ/nh."
Không biết chữa bệ/nh?
Ta cứ tưởng người cái gì cũng biết.
Người biết tụng kinh, biết bổ củi, biết kéo nước, biết cho chim ăn, sao lại không biết chữa bệ/nh?
Lời vừa dứt, phụ nhân càng khóc dữ hơn, bất chấp tất cả dúi đứa trẻ vào lòng Tịnh Không.
Tịnh Không luống cuống đón lấy, đứa trẻ mềm nhũn nằm trong tay người, hơi thở vừa gấp vừa nông.
Tịnh Không chẳng nói gì.
Người ôm đứa trẻ ấy, cúi đầu nhìn hồi lâu.
Đôi mày nhíu ch/ặt, như những dây leo khô xoắn thành bện trước cổng chùa.
Cuối cùng người chạy vào trong phòng, lật ra một cuốn y thư cũ nát, là của vị lão hòa thượng trước kia trong chùa để lại.
Hôm ấy, người lật xem suốt một buổi chiều.
Mặt trời từ đỉnh đầu chuyển sang sau núi, người mới gập sách lại thình thịch, đứng dậy, chạy lên núi.
Hái th/uốc, về sắc th/uốc, cho uống th/uốc.
Hai hôm sau đứa trẻ lui sốt, mở mắt ra, oa một tiếng khóc.
Khóc mạnh mẽ, chứng tỏ đã sống lại.
Phụ nhân quỳ trên đất dập đầu, dập đến nỗi trán đầy bụi đất, ôm con cảm tạ ngàn lần muôn lượt rời đi.
Tịnh Không nhìn bóng họ xuống núi, bỗng hỏi ta: "Tiểu đồ vật, ngươi nói xem, nếu ta học được cách chữa bệ/nh, có phải sẽ c/ứu được rất nhiều người?"
Ta chíp một tiếng.
Tịnh Không cười: "Ngươi bảo phải."
Chim chẳng nói, chỉ một mực lắc đầu.
04
Từ đó về sau, Tịnh Không bắt đầu học y.
Không có thầy dạy, người tự mình đọc cuốn y thư cũ nát kia, nhận biết thảo dược, ghi nhớ phương th/uốc.
Trong sách có nhiều chữ người không biết, bèn lật đi lật lại mà đoán, đoán không ra thì chạy xuống thôn dưới núi tìm người hỏi.
Những loại thảo dược hái được trên núi, người lần lượt nếm thử.
Lúc ấy ta vừa học bay, liền đậu trên vai người, nhìn người ngồi xổm trong bụi cỏ, đút từng phiến lá, từng quả mọng vào miệng, nhai vài cái, nhíu mày, ghi chép vài nét vào cuốn sổ.
Có khi nếm xong người nhe răng cười, chứng tỏ thứ đó không đắng không đ/ộc; có khi nếm xong sắc mặt trắng bệch, ta biết là sắp có chuyện hỏng.
Một lần, người nếm phải một loại quả dại, miệng sưng hai ngày, đến kinh cũng tụng không rõ.
Lão hòa thượng bưng bát cháo đến, thấy bộ dạng ấy của người, gi/ận đến chống gậy xuống đất thịch một cái.
"Ngươi không cần mạng nữa sao?"
Tịnh Không miệng sưng, nói lúng búng: "Sư phụ, con đã nếm qua rồi mới biết nó có thể dùng làm th/uốc hay không. Nhỡ sau này có người ăn trúng đ/ộc, con biết cách giải."
Gió núi thổi qua sân chùa, bát cháo trong tay lão hòa thượng chao động.
Người nhìn Tịnh Không, trầm mặc rất lâu, rồi thở dài, dúi bát cháo vào tay Tịnh Không.
"Ngươi với sư phụ ngươi thời trẻ, giống hệt như nhau."
Tịnh Không thoáng ngẩn, cười híp mắt nói: "Sư phụ, người chẳng phải chính là sư phụ của con sao?"
Lão hòa thượng không nói, gõ mõ lên.
Mãi đến năm Tịnh Không mười sáu tuổi, trong chùa rốt cuộc lại có một vị hương khách ghé thăm.
Đó là một thương nhân mặc vóc lụa, b/éo tròn, dẫn theo cả nhà già trẻ, còn dắt một con la thồ đầy cống phẩm.
Thương nhân vào điện thắp hương, lúc bước ra thấy Tịnh Không đang phơi thảo dược trong sân.
Đầy đất là sài hồ, hoàng kỳ, cam thảo, trải trên những tấm nong tre, mặt trời rọi xuống, cả sân ngập vị đắng.
Ta đậu trên vai Tịnh Không, bị mùi ấy hun đến hắt hơi liên tục.
Thương nhân hiếu kỳ, ghé lại hỏi: "Tiểu sư phụ còn biết chữa bệ/nh ư?"
Tịnh Không gật đầu.
Thương nhân thở dài, nói rằng mẹ già hắn quanh năm ho hen, cứ đêm đến là ho không ngủ được, đã xem bao nhiêu đại phu đều chẳng khá, tiền th/uốc tiêu hết cả một xe ngựa, lão thái thái vẫn ho. Nói lời này, hắn đưa tay sờ bụng mình, chẳng biết là xót mẹ già hay xót tiền.
Tịnh Không suy nghĩ, nói: "Có thể cho ta xem thử được chăng?"
Thương nhân bèn đỡ mẹ già từ xe ngựa xuống.
Tịnh Không bắt mạch, lật mí mắt xem, lại hỏi vài câu, rồi kê một phương th/uốc.
Thương nhân cầm phương th/uốc đi, có lẽ không để tâm lắm.
Nào ngờ, ba tháng sau, thương nhân lại đến.
Lần này hắn không cưỡi la, cũng chẳng có cả nhà già trẻ.
Một mình hắn đ/á/nh một cỗ xe ngựa lớn, trên xe chất đầy gạo, mì, dầu muối, rầm rập chắn kín mít cổng chùa.
Thương nhân lăn cả người xuống xe, vừa đặt chân xuống đất đã quỳ, vừa quỳ đã dập đầu.
"Tiểu sư phụ, phương th/uốc người kê cho mẹ ta, uống hai tháng, ho đã đỡ hơn nửa! Ngần ấy năm chưa từng khá lên!"
Tịnh Không đang ngồi xổm dưới đất vê viên th/uốc thảo dược, bị cái quỳ này của hắn làm hoảng, tay run, các viên th/uốc lăn đầy đất.
Người vội đỡ thương nhân dậy: "Là lão nhân gia thể trạng vốn tốt, chẳng phải y thuật của ta hay."
Thương nhân sống ch*t không chịu dậy, b/éo ục ịch như quả cầu thịt, ương ngạnh quỳ dưới đất, nhất quyết đòi quyên tiền sửa chùa.
Tịnh Không cản không nổi, sốt ruột đến gãi đầu trọc.
Lão hòa thượng từ Phật đường bước ra, nheo con mắt đ/ộc nhìn xe đầy gạo mì ấy, lại nhìn thương nhân đang quỳ dưới đất, hừ một tiếng, híp mắt cười mà thu nhận.
Sau đó, người tới chùa tìm Tịnh Không chữa bệ/nh dần dần nhiều hơn.
Tin tức có lẽ do thương nhân kia truyền ra.
Thương nhân đi khắp nam bắc, quen biết nhiều người, miệng cũng rộng.
Một đồn mười, mười đồn trăm, người dưới núi, thôn bên cạnh, thậm chí người trên trấn, nghe nói trên núi có tiểu hòa thượng biết chữa bệ/nh, không lấy tiền, lại chữa khỏi, liền mang theo lương khô trèo lên núi.
Tịnh Không trở nên ngày một bận rộn, mỗi ngày trời chưa sáng đã dậy, khám bệ/nh, hái th/uốc, sắc th/uốc, bận tới tận canh khuya.
Ta chỉ có thể đậu trên vai người, bầu bạn cùng người.
Bốn mùa trên núi xoay vần.
Mùa xuân người đào rau dại làm dẫn th/uốc, mùa hè người phơi dược liệu dưới nắng gắt, mùa thu người vào rừng nhặt quả rụng, mùa đông người quây quanh lò than sắc cao.
Đêm hôm, Tịnh Không mệt đến mức phục trên bàn thiếp ngủ.
Bát th/uốc trên bàn chưa rửa, y thư mở ra, bị ép dưới khuỷu tay người.
Ánh nến chập chờn, soi lên mặt người nửa vàng nửa tối.
Thật chẳng khiến bản điểu bớt lo.
Ta dùng mỏ tha tấm cà sa vắt trên thành ghế, vỗ cánh kéo qua, đắp lên lưng người.
Áo quá lớn, trùm kín đầu người, ta lại dùng mỏ chúi chúi, để mặt người lộ ra.
Người tỉnh giấc, viền mắt đỏ hoe, thấy là ta, nhu hòa cười: "Tiểu đồ vật, ngươi còn hiểu chuyện hơn cả con người."
Ta chíp một tiếng.
Người đời nào được như ta hoàn hảo? Chẳng cần cơm nước, chẳng cần chợp mắt, chỉ biết làm việc, ngươi ki/ếm đâu ra.
Người xoa xoa đầu ta, bỗng nói: "Tiểu đồ vật, ngươi bảo, con người sống là vì điều gì?"
Ta nghiêng đầu nhìn người.
Con người, câu hỏi này to t/át quá, cái đầu sẻ này của ta chứa chẳng nổi.
Ta chỉ biết sâu ăn rất ngon, tổ phải ấm áp, trời sáng thì phải hót, trời tối thì đi ngủ.
Con người sống là vì điều gì?
Người nghĩ ngợi một lát, tự mình đáp lời: "Sư phụ nói, người sống là vì chính mình. Nhưng ta ngay cả người đời còn chẳng độ nổi, làm sao độ mình đây?"
Ta chẳng biết độ người là gì.
Ta chỉ biết người lại g/ầy rộc đi, tay áo rộng thùng thình bay phất phơ.
Ta nhảy vào lòng bàn tay người, lấy đầu cọ ngón tay người.
Người ơi, người rất lợi hại.
Thật đấy.
Người không biết mình lợi hại đến nhường nào đâu.
Người xoa đầu ta: "Ngươi độ ta đấy."
Ánh trăng nhàn nhạt, gió núi từ khe giấy cửa sổ rá/ch chui vào, rít lên vù vù.
Ta co mình trong lòng tay người, cơn buồn ngủ kéo đến.
Độ với chẳng độ gì, cứ ngủ đã.
Mai sau ngươi còn phải dậy sớm khám bệ/nh cho người ta đó.
05
Lão hòa thượng đã đi rồi.
Năm ấy Tịnh Không mười tám tuổi.
Ngày lão hòa thượng ra đi, nắng rất đẹp, trong sân đang phơi đầy thảo dược của Tịnh Không.
Lão hòa thượng ngồi trước Phật, gõ mõ lần cuối cùng.
Tịnh Không bưng bát cháo vào, phát hiện lão hòa thượng đã tắt hơi.
Tay lão còn nắm dùi mõ, mặt mang theo nụ cười, như đang say ngủ.
Tịnh Không chẳng khóc, chỉ quỳ trước mặt lão, dập ba cái đầu.
"Cảm tạ ơn c/ứu mạng của người."
Ta đậu trên khám Phật, nghe câu này, trong lòng bỗng nhiên thót một cái.
Hóa ra Tịnh Không không có cha mẹ, là do lão hòa thượng nuôi lớn.
Đêm đến, một mình người ngồi trong Phật đường, đối diện bài vị của lão hòa thượng mà ngẩn người thất thần.
Ta nghiêng đầu.
Người nói: "Tiểu đồ vật, sư phụ đi rồi, trong chùa này chỉ còn mỗi mình ta."
Ta bay đến đậu trên vai người, dùng mỏ khẽ mổ vành tai người.
Không sao, có ta bầu bạn với ngươi.
Người bị mổ đến nhột, rốt cuộc bật cười, bắt đầu kể chuyện của mình và lão hòa thượng.
Lão hòa thượng tính tình chẳng tốt, động một tí là lấy gậy chọc đầu người.
Mỗi lần chọc xong, lại lén thêm vào bát người một muỗng thức ăn.
"Sư phụ nói, năm ấy mùa đông, có người nhặt được ta ở cổng chùa. Bọc trong tấm vải nát, lạnh đến môi tím tái, khóc cũng không ra tiếng. Ai đã đặt ta ở đó, chẳng ai hay."
"Sư phụ nói, lão vốn dĩ chẳng muốn thu nhận. Chùa nghèo quá, chính mình còn ăn không no, nuôi sao nổi một đứa bé. Nhưng khi lão bế ta lên, ta bỗng dưng nín khóc, còn vươn tay nắm râu lão."
"Lão bèn mềm lòng."
Ta nằm trong hõm vai người, nằm im không động đậy.
Ta nhớ lại dáng vẻ người hồi nhỏ đút gạo cho ta.
Nhai nát hạt gạo, ngâm mềm, dùng đầu lưỡi đưa ra, từng chút một phết lên mỏ ta.
Khi ấy ta chẳng hiểu, giờ phút này bỗng nhiên vỡ lẽ.
Người không phải đang cho chim ăn.
Người đang nuôi chính đứa bé bị bỏ rơi ở cổng chùa ngày nào.
"Kỳ thực, trước khi sư phụ ra đi, có nói với ta một câu."
Ta dỏng tai lên.
"Lão bảo, Tịnh Không, con đã học xong tất cả những gì vi sư có thể dạy. Xuống núi đi thôi, dưới núi cần có con."
Ta sững người.
Xuống núi ư?
Tịnh Không xoa xoa đầu ta: "Tiểu đồ vật, ta phải đi rồi. Ngươi có theo ta không?"
Ta liều mạng gật đầu.
Ngốc quá, ta chẳng theo ngươi thì ta còn đi được nơi nào chứ?
"Ngươi gật đầu ta cũng nhìn chẳng ra. Ngươi chỉ cần chíp một tiếng, chíp là ta dẫn ngươi đi."
"Chíp!"
Tiếng này ta dốc hết toàn thân sức lực, chíp đến mức cả Phật đường vang ong ong.
Tịnh Không bị gi/ật mình, rồi cười phá lên ha hả.
Sáng sớm hôm sau, Tịnh Không thu xếp một gói đồ nhỏ.
Vài bộ y phục thay giặt, cuốn y thư đã sờn rá/ch, một túi lương khô, và cả mõ của lão hòa thượng.
Người thắp một nén hương trước bài vị lão hòa thượng, nói: "Sư phụ, đệ tử xuống núi đây. Người yên tâm, đệ tử sẽ không để người phải hổ thẹn đâu."
Rồi người xoay mình, khóa cổng chùa, sải bước xuống núi.
Ta đứng trên vai người, ngoảnh đầu nhìn lại ngôi chùa hoang.
Lớp sơn trên cổng chùa tróc hết cả mảng, để lộ ra mảnh gỗ xám xịt bên dưới.
Tường rêu phủ đầy vết xanh, trên đầu tường mọc lơ thơ mấy cây cỏ đuôi chó, gió thổi qua lắc la lắc lư.
Ta nhớ trong sân còn phơi thảo dược chưa kịp dọn, gió thoảng đưa lại một làn hương th/uốc thơm nức mũi.
Khoảnh khắc này, lòng ta bỗng thấy chua xót.
Tịnh Không như cảm nhận được điều gì, giơ tay vỗ vỗ đầu ta.
Bàn tay người rất lớn, gần như phủ kín cả thân mình ta.
"Đừng ngoái đầu lại, bước đi thôi."
Chúng ta đi thật lâu thật lâu, thật xa thật xa.
Từ mùa xuân đi đến mùa hạ, từ trong núi non bước xuống chốn nhân gian thôn xóm.
Thôn đầu tiên tên là Đào Hoa Câu, nhưng chẳng có chút gì là xinh đẹp.
Nhà cửa xiêu vẹo, tường đắp bằng đất, kẽ nứt được nhét đầy rơm rạ.
Trên đường toàn bùn đất lầy lội, phân gà phân vịt trộn lẫn vào nhau, tanh hôi nồng nặc.
Bọn trẻ con đi chân trần chạy tới chạy lui, người lấm lem bùn hết cả, nước mũi thòng dài.
Tịnh Không dừng chân dưới gốc cây hòe già đầu thôn, mở hòm th/uốc ra, treo tấm bảng viết sẵn chữ "Nghĩa chẩn" lên.
Dân làng bu lại xem.
Người càng lúc càng đông, thì thầm to nhỏ, trỏ tay chỉ chỏ.
"Còn trẻ thế kia, biết chữa bệ/nh sao?"
"Có phải bịp người chăng?"
Ta tức tối kêu chíp một tiếng.
Coi thường ai thế!
Tịnh Không chẳng chút phiền n/ão, cười mà rằng: "Không lấy tiền, chữa không khỏi cũng không lấy tiền."
Một lão thái thái ngần ngừ ngồi xuống, đưa cổ tay ra.
Tịnh Không bắt mạch, hỏi chứng trạng, kê phương th/uốc.
Lão thái thái nửa tin nửa ngờ cầm phương th/uốc trở về.
Hôm sau, lão thái thái lại đến, lần này mang theo một giỏ trứng gà.
"Tiểu sư phụ, th/uốc người kê ta uống một thang, ban đêm ho đã đỡ nhiều lắm!"
Tịnh Không không chịu thu trứng gà, lão thái thái cố dúi vào lòng người, đỏ hoe vành mắt nói rằng: "Lão bà tử này ho suốt bảy tám năm, con dâu chê ta ban đêm ồn, bao phen muốn đuổi ta ra khỏi nhà. Người đây là c/ứu mạng ta đấy ạ."
Lời đã đến thế, Tịnh Không đành phải thu lấy trứng gà, chia cho bọn trẻ trong thôn ăn.
Bọn trẻ ăn lòng đỏ trứng dính đầy mép, vui mừng đến nỗi vỗ tay liền hồi.
Tịnh Không ngồi xổm bên cạnh nhìn chúng, vui vẻ nheo mắt.
Ta đứng trên vai người mà nhìn, thầm nghĩ, cái đồ ngốc này, chính mình còn đói bụng, lại đem trứng gà cho kẻ khác.
Nhưng ta chỉ có thể hướng về người kêu chíp chíp chíp.
Đào Hoa Câu ở lại nửa tháng, Tịnh Không chữa khỏi không ít người, cũng đắc tội với kẻ khác.
Trong thôn có một gã thổ lang trung, họ Vương, tài xem bệ/nh thì không có, tài thu tiền thì nhất hạng.
Ai muốn khám bệ/nh đều phải nộp trước năm trăm đồng "chẩn kim", tiền th/uốc tính riêng.
Dân làng nghèo, không dám khám bệ/nh, tiểu bệ/nh kéo thành trọng bệ/nh, trọng bệ/nh kéo thành người ch*t.
Bởi vậy, sau khi Tịnh Không tới, miễn phí xem bệ/nh, sinh ý của thổ lang trung bị cư/ớp sạch.
Một tối kia, thổ lang trung dẫn theo mấy tên, chặn ngay trong căn nhà nát Tịnh Không tá túc.
"Tiểu tử, thức thời thì lăn ngay đi, đừng ở địa bàn của lão tử mà giành sinh ý."
Tịnh Không đứng dậy, cao hơn thổ lang trung cả cái đầu.
Người cúi đầu xuống, nhìn đối phương, hết sức bình tĩnh đáp: "Ta chỉ muốn chữa bệ/nh cho người, chẳng giành sinh ý của ai cả."
Thổ lang trung nhổ một bãi: "Giả vờ làm người tốt cái gì? Lão tử ở Đào Hoa Câu hai chục năm, đến lượt ngươi một gã hòa thượng ngoại lai đến mà giả làm Bồ T/át sao?"
Đám người sau lưng hắn xông lên trước một bước.
Mắt ta lập tức đỏ ngầu.
Không phải khóc, mà là tức muốn n/ổ tung.
Ta vỗ cánh bay lên, lao thẳng vào mặt tên tráng hán kia.
Mổ! Mổ thật mạnh!
Tên đó "áo" một tiếng ôm mặt, loạng choạng lui về sau.
Một tên tráng hán khác h/oảng s/ợ, vội vàng lùi lại.
Tịnh Không cuống quýt chụp ta về, ủ trong lòng.
"Tiểu đồ vật, chớ làm tổn thương người. Ta biết rồi, ngày mai ta sẽ đi."
Thổ lang trung hừ một tiếng, dẫn đám người rời đi.
Đêm ấy Tịnh Không suốt đêm không ngủ.
Người ngồi nơi ngạch cửa, nhìn trăng trên trời.
Ta co ro trên đầu gối người, dùng cánh phủ lên ngón tay người.
Giọng Tịnh Không có chút ngập ngừng: "Tiểu đồ vật, có phải ta đã làm sai?"
"Chíp!"
Bản điểu cho rằng không sai.
"Ta chẳng biết. Chỉ là ta muốn giúp họ, nhưng có kẻ không muốn để ta giúp."
Người trầm mặc hồi lâu.
Gió đêm thổi qua, lá hòe trong sân lao xao.
Ta bỗng chú ý tới một chuyện.
Từ khi Vương lang trung dẫn người đạp cửa, đến khi bọn chúng ch/ửi rủa rời đi, trước sau gần nửa canh giờ.
Trong khoảng ấy, mấy hộ nhân gia bên cạnh đèn sáng lên, rồi lại tắt.
Có người đẩy cửa sổ hé nhìn ra, rồi vội vàng đóng lại, không một ai bước ra.
Tịnh Không có lẽ cũng đã nhận ra.
Người vùi sâu mặt vào đầu gối, ủ ê nói một câu: "Sư phụ nói, độ nhân khó vậy, khó không phải ở bệ/nh, mà ở lòng người."
Ta rúc sâu vào lòng người.
Người cúi đầu xuống, áp mặt vào lông vũ của ta.
"Tiểu đồ vật, may mà có ngươi."
Trăng lên tới đỉnh cao, soi rõ mồn một toàn cảnh Đào Hoa Câu.
Những căn nhà xiêu vẹo kia, những con đường lồi lõm, những khung cửa sổ rõ ràng nghe thấy động tĩnh, nhưng vẫn lựa chọn đóng im ỉm.
Ta ở trong lòng người từ từ nhắm mắt.
Không việc gì đâu, hòa thượng ngốc ạ.
Người ta không cần ngươi, ta cần ngươi.
06
Mùa đông sang, chúng ta đến một nơi khác, gọi là Thanh Thạch trấn.
Tuyết lớn quái dị.
Trời đất mênh mang trắng xóa, phân chẳng rõ nơi nào là trời, nơi nào là đất.
Vạt cà sa của Tịnh Không đông cứng thành vỏ giá, bước đi lạch cạch vang.
Lúc chúng ta vào trấn, đã cảm thấy không ổn.
Trên phố chẳng những không người, đến cả cửa hiệu cũng đóng kín, cửa sổ từ bên trong đã bịt ch/ặt.
Tịnh Không nhanh chân đến trước một nhà còn mở toang cửa, nhìn vào trong.
Một nam tử đang nằm trên giường, sắc mặt xám trắng, quanh mép mọc một vòng vảy m/áu, mỗi tiếng ho lại hộc ra bọt m/áu.
Bên giường có người đàn bà ngồi xổm, vừa khóc vừa lau miệng cho hắn. Tịnh Không ngồi xuống, bắt mạch nam tử ấy, thần sắc bỗng biến đổi.
Người nói đây là dị/ch bệ/nh, sẽ truyền nhiễm.
Trấn trưởng vừa nghe, muốn đuổi bệ/nh nhân vào trong núi.
"Bệ/nh này lây lan, cả trấn đều phải ch*t. Ngươi là hòa thượng ngoại lai, không hiểu chuyện, đừng có chen vào."
Tịnh Không can ngăn: "Họ cũng là con người, không thể vứt ra ngoài chờ ch*t như vậy, có thể cách ly bệ/nh nhân, để ta đến trị."
Trấn trưởng ngẩng đầu nhìn người một cái, rồi lại cúi xuống.
"Muộn rồi, đã sai người đuổi họ vào trong núi rồi."
Tuyết vẫn rơi.
Tịnh Không dẫm tuyết chạy ra ngoài trấn, chạy đến nỗi rơi cả một chiếc giày.
Ta bay phía trước, dẫn đường cho người.
Dưới chân núi bên ngoài trấn, một đám người đang bị xua đuổi ra.
Đàn ông, đàn bà, lão nhân, trẻ con, có kẻ được khiêng trên cánh cửa, có kẻ được người dìu, có kẻ đành phải tự mình bò.
Đối diện mấy gã tráng đinh tay cầm gậy gộc, Tịnh Không vẫn mặt không đổi sắc: "Ta đến trị, nếu trị không khỏi, ta cùng họ cùng đi."
Tên tráng đinh đứng đầu là cháu trai của trấn trưởng, co ro trong chiếc áo da, miệng ngậm cọng cỏ.
Hắn nhìn Tịnh Không từ trên xuống dưới hai lượt, rồi nhổ cọng cỏ ra.
"Được. Ngươi trị. Trị không khỏi, ch/ôn cả ngươi theo."
Hôm sau, Tịnh Không bèn ở trong ngôi miếu hoang bên ngoài trấn, dựng lên một lều chữa bệ/nh tạm.
Bệ/nh nhân được khiêng đến, có người ho đến không thở nổi, có người sốt đến nói mê sảng, có người đã hấp hối thoi thóp.
Tịnh Không lần lượt bắt mạch từng người, lần lượt kê phương th/uốc từng người.
Phận làm một con chim, ta căn bản chẳng giúp được gì nhiều, chỉ có thể bay qua bay lại tha đồ cho người: kéo, vải vụn, bát th/uốc.
Nhưng bệ/nh nhân thực sự quá nhiều.
Từ hơn mười, tăng lên đến hơn năm chục.
Tịnh Không chỉ có một mình, hai tay, một đôi mắt, một cây kim.
Mệt mỏi, người chỉ có thể tựa lưng vào tường nhắm mắt một lúc, nhưng vừa nhắm đã bị tiếng ho đ/á/nh thức, cắn răng, lại gượng dậy tiếp tục làm.
Đêm hôm ấy, Tịnh Không vừa châm kim cho bệ/nh nhân cuối cùng xong, chính mình bỗng nhiên loạng choạng một cái.
Ta tưởng người quá mệt, lấy đầu chúi vào chân người, muốn người ngồi xuống nghỉ ngơi.
Người không động đậy.
Ta ngẩng đầu nhìn mặt người, mặt người đỏ bừng, trán đầm đìa mồ hôi.
Ta h/oảng s/ợ, lấy mỏ mổ ngón tay người, mổ liền mấy cái, người mới cúi đầu nhìn ta.
Mắt người đã có chút mê man rồi, đồng tử tán ra, tựa như cách một tầng sương.
"Tiểu đồ vật, ta dường như... cũng đổ bệ/nh rồi."
Giây sau, thân mình người thẳng đơ ngã xuống.
07
Hỏng bét rồi.
Làm sao đây?
Làm sao làm sao làm sao đây?
Ta quay xung quanh người bay tới bay lui, thoạt thì đỗ trên ng/ực người nghe nhịp tim, thoạt thì mổ ngón tay người, thoạt thì lấy đầu chúi vào mặt người.
Ta chíp chíp kêu lo/ạn, kêu đến rá/ch cả cổ, cả ngôi miếu hoang vang ong ong.
Nhưng không một ai nghe thấy.
Bệ/nh nhân kẻ hôn mê, người thiếp ngủ, thỉnh thoảng có kẻ ho vài tiếng, rồi lại thiếp đi.
Căn bản không ai nghe thấy hay để tâm một con chim sẻ đang kêu gì.
Ta áp mặt vào trán Tịnh Không, nóng hổi như sắt nung đỏ.
Ta nhớ lại người từng trên núi dạy ta nhận biết thảo dược, có một loại gọi là sài hồ, có thể lui sốt.
Nhưng giờ đang là mùa đông, trên núi đầy tuyết, ta biết tìm sài hồ nơi nào?
Ta nhìn gương mặt Tịnh Không.
Môi người đã tím tái rồi.
Thở hổ/n h/ển, thở hổ/n h/ển, mỗi một tiếng thở đều khiến lòng bản điểu thắt lại.
Thôi kệ.
Không tìm được cũng phải tìm.
Ta bay ra ngoài rồi.
Ta giữ vững đôi cánh, liều mạng bay lên núi.
Bông tuyết từng mảnh từng mảnh đ/ập vào mình ta, chẳng mấy chốc trên cánh ta đã kết một lớp màng băng mỏng.
Tuyết trắng mênh mông, trời trắng mênh mông, cây cối trắng mênh mông.
Ta hạ xuống, trong tuyết nhảy lò cò từng bước tìm ki/ếm.
Tuyết ngập quá chân ta, lạnh cóng khiến ta run cầm cập.
Ta dùng mỏ bới tuyết, bới lớp đất bên dưới, bới hết lần này tới lần khác.
Ta không rõ đã bay bao nhiêu chuyến, đổi bao nhiêu nơi.
Công quả không phụ lòng chim có tâm.
Mãi đến khi trời gần sáng, trong một khe đ/á tìm thấy mấy cây sài hồ con đã gần khô héo.
Tịnh Không đã dạy ta, nên ta biết lá của nó, viền răng c/ưa, mọc thành từng cụm từng cụm.
Ta bắt đầu dùng mỏ đào rễ.
Sài hồ bén rễ rất sâu, ta liều mạng mổ, mổ đến đ/au cả mỏ, mổ đến tuyết và đất đầy rẫy mặt mày.
Khó khăn lắm mới dùng mỏ đào được rễ cây, tha trở về bay, gió lại quá to, bao phen suýt thổi bay ta.
Đợi ta bay về tới ngôi miếu hoang, trời đã sáng rồi.
Tịnh Không nằm đó, môi vẫn tím tái.
Ta tha sài hồ đến bên miệng người, phát hiện người đã không cách nào nhai được nữa.
Người hôn mê rồi, đến cả hàm răng cũng cắn ch/ặt.
Ta lại tha sài hồ vào bát, dùng nước ngâm nở ra, rồi dùng mỏ hớt lên, từng giọt từng giọt rỏ vào miệng người.
Ta rỏ rất lâu, lâu đến nỗi mỏ ta đều trầy da.
Khi mặt trời lên tới chỗ cao nhất, hơi thở của Tịnh Không dần dần ổn định.
Ta nằm trên ng/ực người, nghe nhịp tim của người, cuối cùng thở phào một hơi.
Lúc người tỉnh lại, đã là hôm sau rồi.
Người chầm chậm mở mắt, bỗng nhiên cười: "Tiểu đồ vật, ngươi sao g/ầy đi rồi?"
Ta kêu chíp một tiếng, nhưng lại mang theo chút giọng nấc.
Đồ ngốc, ngươi nói đi!
Người phát hiện vết m/áu trên mỏ chim của ta, vành mắt từ từ đỏ hoe, liền đó nâng ta lên, đặt vào giữa ng/ực.
"Ngươi đã c/ứu ta rồi."
Ta cọ cọ vào lòng tay người, đồ ngốc, ngươi sống là được rồi.
Dị/ch bệ/nh ở Thanh Thạch trấn cuối cùng đã được Tịnh Không kh/ống ch/ế.
Sốt vừa lui, người đã gượng dậy, lảo đảo tiếp tục sắc th/uốc, châm kim, kê phương th/uốc.
Bệ/nh nhân lần lượt lui sốt, từng người từng người bị cư/ớp về từ tay Diêm Vương.
Thôn trưởng đích thân tới tạ ơn, mang đến một rương bạc, nói là quyên cho chùa sửa tượng Phật.
Tịnh Không khoát tay không nhận.
Người giữ lại một ít dược liệu, trả lại một phần trứng gà và lương khô mà bệ/nh nhân dúi cho, số còn lại chia cho mấy hộ nghèo nhất trong thôn.
Ngày lâm hành, người ở Thanh Thạch trấn đến tiễn người, tiễn một quãng đường rất dài.
Có một bà lão kéo tay người, khóc mà rằng: "Tiểu sư phụ, người là Bồ T/át sống đấy ạ."
Tịnh Không cười: "Ta chẳng phải Bồ T/át, ta chỉ là một hòa thượng."
Lão thái thái lắc đầu, nước mắt vung đầy đất: "Người còn linh thiêng hơn Bồ T/át. Bồ T/át ngồi trong chùa, ai cầu đều phù hộ. Người thì khác, người là thực sự đến c/ứu chúng ta."
Tịnh Không lắc đầu, không giải thích thêm. Ánh tà dương treo trên đầu núi xa xa, kéo dài in bóng người thật dài thật dài.
Cái bóng ấy đổ trên con đường đất vàng, như một cây sào g/ầy gầy cao cao, lúc la lúc lắc.
Ta đứng trên vai người, cái bóng tựa một chấm nhỏ, khảm trong bóng người, không nhìn kỹ thì tìm chẳng ra.
Lúc người bước ra khỏi cửa trấn, còn ngoảnh đầu nhìn lại một cái.
Nhà cửa ở Thanh Thạch trấn thu nhỏ thành một mảnh nhỏ xíu, những phiến ngói màu xám dưới bóng tà dương ánh lên sắc đỏ.
Khói bếp từ ống khói nhà nhà bay lên, chỗ đông một sợi chỗ tây một sợi, ngoằn ngoèo bay lên trời.
Người nhìn hồi lâu.
"Tiểu đồ vật, ngươi nói xem, sau này họ có còn nhớ đến ta không?"
"Chíp~"
Nhớ cũng được, chẳng nhớ cũng được.
Ngươi đâu phải vì để người ta nhớ mà đến.
"Nhớ hay không nhớ đều không quan trọng. Quan trọng là, họ đã sống sót."
Giữa đất trời xam xám mờ mờ, người và ta trên con đường chẳng thấy đầu ấy, một cao một thấp, một lớn một nhỏ, chầm chậm tiến về phía trước.
Không ai biết, người suýt chút nữa đã ch*t nơi trấn nhỏ này.
Cũng không ai biết, một con chim sẻ trong đêm tuyết bay suốt một đêm, đào bới ba khe đ/á, mòn rá/ch cả mỏ, c/ứu người một mạng.
Thôi vậy.
Chỉ cần người sống là tốt rồi.
Chỉ cần người sống, ta kêu chíp suốt một đời cũng được.
08
Mùa xuân đến rồi, chúng ta tiếp tục lên đường.
Tuyết tan rồi, sông vỡ băng rồi, cỏ ven đường từ trong đất nhú ra, vàng non vàng non.
Tịnh Không xắn vạt cà sa lên, bước trên con đường lầy lội, một bước một vết chân.
Ta theo trên vai người, lâu lâu lại rũ rũ đôi cánh, rũ sạch lớp bụi tích tụ suốt mùa đông qua.
Đi qua rất nhiều nơi, gặp rất nhiều người.
Có nơi giàu, có nơi nghèo.
Nơi giàu người ta cũng chẳng vui.
Chê ki/ếm được ít, chê nhà nhỏ, chê tiệm đối diện giành mất mối làm ăn.
Tịnh Không ngồi bên đường chữa bệ/nh cho người ta, bọn họ một bên xếp hàng một bên cãi nhau, ồn ào còn hơn cả bệ/nh mà phiền.
Nơi nghèo người ta càng chẳng vui.
Trẻ con đói đến bụng phình ra, chân g/ầy như cọng đay.
Bữa trên ăn rồi bữa dưới không có, làm sao chẳng lo cho được.
Tịnh Không dường như lúc nào cũng rất bận.
Ban ngày chữa bệ/nh cho người, ban đêm giảng kinh cho người, có khi nửa đêm còn phải dậy sắc th/uốc cho người bệ/nh cấp.
Đôi khi ta nghĩ, người có phải đã quên mất chính mình cũng là con người?
Người cũng biết đói, biết lạnh, biết mệt.
Nhưng người chưa từng oán trách.
Ngày này, chúng ta trong một khe núi gặp một người thợ săn.
Thợ săn đã đi săn cả một đời, trong nhà treo đầy da thú và xươ/ng.
Tịnh Không đến xin nước uống, thợ săn rót cho người bát nước, lại cho một nắm đậu nành rang muối.
Tịnh Không ăn đậu nành, nhìn những tấm da thú trên tường, bỗng thở dài một tiếng.
"Thí chủ, ngươi đã gi*t hại bao nhiêu sinh linh?"
Thợ săn trừng mắt nhìn người: "Lão tử dựa vào săn b/ắn mà sống, không săn b/ắn thì ăn gì?"
Tịnh Không nói: "Ngươi có từng nghĩ, những sinh linh bị ngươi gi*t hại, cũng có cha mẹ con cái?"
Thợ săn phắt đứng dậy, đ/ập bàn một cái: "Ngươi một kẻ hòa thượng, ăn chay niệm Phật thì liên quan gì đến ta? Có bản lĩnh thì ngươi đừng mặc áo da!"
Tịnh Không cúi đầu nhìn y phục của mình, là chiếc áo cà sa vải thô chồng đầy mảnh vá.
"Ta không mặc áo da. Ta chỉ là cảm thấy, lúc ngươi gi*t chúng, chúng cũng đang sợ hãi."
Thợ săn quăng bát một cái: "Cút!"
Tịnh Không đứng dậy, hai tay chắp lại, niệm một câu Phật, xoay người bước đi.
Ta bay theo sau người, trong lòng thình thịch đ/ập.
Không phải, tim chim sẻ vốn đã đ/ập nhanh, bây giờ là nhanh lại càng nhanh hơn.
Có điều tên thợ săn thật hung dữ, may mà Tịnh Không không bị đ/á/nh.
Tịnh Không bước được mấy bước, bỗng dừng lại.
Người ngoảnh đầu nhìn lại căn chòi nhỏ của thợ săn, nói: "Tiểu đồ vật, ngươi nói xem, Phật Tổ vì sao muốn độ người, mà không độ những con vật kia?"
Ta kêu chíp một tiếng.
"Bởi vì con người biết nói, động vật không biết nói. Không biết nói, thì không ai để ý."
Người cúi đầu, nhìn ta.
"Nhưng ta để ý."
Gió núi thổi vù vù, thổi tung vạt áo cà sa của người lên.
Trên ngọn cây xa xa, một con quạ kêu hai tiếng, rồi bay đi.
Ta chúi vào lòng bàn tay người, dùng đầu cọ cọ vào vết chai trong lòng tay người.
Thầm nghĩ, ngươi để ý gì chứ.
Con người, thứ ngươi để ý nhiều quá rồi.
Là để ý không hết được.
09
Mùa thu, Tịnh Không nhận được một bức thư.
Là một bệ/nh nhân từng đọc sách viết giúp người, gửi cho một vị sư huynh đồng môn trên núi.
Sư huynh gửi thư hồi đáp, nói rằng sư phụ lúc lâm chung có dặn dò một việc: phương Bắc có chiến sự, rất nhiều bá tánh lưu lạc thất sở, hy vọng Tịnh Không có thể đến biên quan, siêu độ vo/ng h/ồn, c/ứu chữa thương binh.
Tịnh Không xem thư xong, trầm mặc rất lâu.
Ta đậu trên vai người, cảm nhận được bờ vai người đang khẽ run.
Tối đến, người ngồi trên tảng đ/á bên bờ sông.
Trăng rất to, tròn đến lạ thường, treo trên trời như một ngọn đèn.
Nước sông chảy ào ào, ánh trăng vỡ vụn trên mặt nước, từng mảnh từng mảnh, như rải đầy đất những mảnh bạc vụn.
Ta đậu trên vai người, chờ người nói chuyện.
Người trầm mặc rất lâu. Lâu đến nỗi trăng từ đằng đông đã dời lên đỉnh đầu, lâu đến nỗi những mảnh bạc vụn trong dòng nước bị gió thổi tan rồi lại tụ, tụ rồi lại tan.
"Tiểu đồ vật, biên quan rất nguy hiểm."
"Chíp."
Ý là "Ta biết rồi".
"Ta có thể sẽ ch*t ở nơi đó."
"Chíp chíp."
Ý là "Ngươi nói không tính đâu".
"Ngươi có sợ không?"
Ta từ trên vai người bay xuống, đáp vào lòng bàn tay người đang mở ra, trong lòng tay người xoay một vòng, tìm một chỗ thoải mái nhất, rồi ngồi xuống, nhắm mắt lại.
Ý tứ rất rõ ràng: Ngươi đi đâu, ta đi đó.
Sợ có ích gì? Sợ ngươi không đi nữa? Con người ngươi, bao giờ từng vì sợ mà không đi?
Người nhìn ta trong lòng tay một nhúm chim sẻ xám xịt nhỏ xíu này, ngẩn ra một lúc.
Rồi người nhẹ nhàng khép tay lại, tựa như đang bưng một vũng nước.
"Tốt."
Đi biên quan, trên đường chúng ta gặp rất nhiều người lánh nạn.
Họ cõng những bọc hành lý rá/ch nát, dắt díu vợ con, từ phương Bắc chạy vào Nam.
Trên mặt mỗi người đều đầy bụi đất và nước mắt, trong mắt toàn là nỗi sợ hãi.
Một phụ nhân bế con, quỳ bên vệ đường, đứa trẻ đã đói đến nỗi không khóc nổi.
Tịnh Không đem chút lương khô cuối cùng cho bà ta.
Phụ nhân cảm tạ ngàn lần muôn lượt, bế con rời đi.
Ta nghiêng đầu nhìn người, người sờ sờ cái bụng lép kẹp, cười rất vui vẻ. "Không sao, ngày mai đến trấn trên là có cái ăn rồi."
Nhưng ngày mai không đến được trấn trên.
Chúng ta lạc đường trên đường đi, đi suốt ba ngày trong núi hoang, Tịnh Không đói đến run cả chân, ngã liền mấy cái.
Ta bay ra ngoài tìm cái ăn.
Ngọn núi này nghèo đến nỗi chim chóc cũng chẳng tới.
Ta bay rất xa, mới bên một khe suối khô cạn tìm thấy một cây táo chua dại.
Trên cây chẳng còn mấy quả, vừa khô vừa héo, vỏ nhăn nheo như gương mặt người già.
Chạy đi chạy lại bảy tám chuyến.
Tịnh Không nhìn những quả dại ta tha về trong lòng tay, chia cho ta một nửa lớn, còn lại tự mình ăn.
"Ngươi cũng ăn đi. Ngươi không thể ch*t đói, ngươi ch*t rồi thì không còn ai bầu bạn với ta nữa."
Quả táo vừa chua vừa chát, khi nuốt xuống cổ họng toàn thấy đắng.
Ta bỗng rất muốn ăn gạo.
Gạo tẻ, gạo kê, gì cũng được.
Đến biên quan, chúng ta mới phát hiện, nơi này còn tệ hơn người tưởng.
Doanh trại đóng trên một bãi hoang vu, lều trại chỗ đông một cái chỗ tây một cái, rá/ch nát tả tơi, có cái bị gió lật mất mái, có cái sập một nửa, phải dùng gậy gỗ chống đỡ tạm bợ.
Trong quân doanh toàn là thương binh, kẻ c/ụt tay g/ãy chân, người sốt đến mê sảng, còn có những người vừa mới tắt hơi chưa kịp ch/ôn.
Trong không khí toàn mùi m/áu tanh và mùi th/ối r/ữa, ruồi bay vo ve, đậu lên vết thương, đậu lên mặt, đậu vào trong những đôi mắt còn mở.
Đại phu chỉ có hai người, một là quân y, tóc hoa râm, mắt thức đến đỏ ngầu, đi đứng lảo đảo.
Người kia là đồ đệ của quân y, mới mười lăm mười sáu tuổi, tay bưng bát th/uốc cứ run liên hồi.
Mà dược liệu thì đã sớm không đủ dùng.
Tịnh Không đặt hòm th/uốc xuống, bắt đầu làm việc.
Người rửa sạch vết thương, băng bó, cho uống th/uốc, rồi tụng kinh cho thương binh.
Có những người bị thương quá nặng, người không c/ứu nổi, bèn nắm tay họ, niệm một biến vãng sanh chú, tiễn họ ra đi.
Có một người lính trẻ tuổi, ng/ực trúng một mũi tên, m/áu không cầm được.
Tịnh Không ôm lấy hắn vào lòng, người lính đã nói không ra lời, dùng khẩu hình nói hai chữ: "Mẹ... mẹ..."
Rồi nước mắt Tịnh Không liền rơi xuống.
Đây là lần đầu tiên ta thấy người khóc.
Tịnh Không đành nhắm mắt lại một cách vô ích, ôm người lính ch/ặt hơn một chút.
Một lúc sau, người lính ấy đã đi rồi, Tịnh Không dùng tay vuốt mắt cho hắn, niệm ba biến vãng sanh chú.
Đêm hôm ấy, Tịnh Không tựa ngoài doanh trướng, một lời cũng không nói.
Ta ngồi xổm trên đầu gối người.
Người vùi mặt vào đầu gối, buồn bã nói một câu: "Tiểu đồ vật, ta chẳng muốn làm Bồ T/át nữa."
"Chíp?"
"Bồ T/át sẽ không khóc. Bồ T/át sẽ không trơ mắt nhìn người ch*t, mà c/ứu chẳng được."
Người ngẩng đầu lên, hai mắt đỏ lựng như thỏ.
"Vậy mà ta... hết lần này tới lần khác chẳng làm được gì cả."
Ta ra sức cọ lấy tay người.
Lấy đầu chúi vào ngón tay người, chúi một cái, lại chúi một cái, chúi đến nỗi chính mình cũng thấy phiền chính mình.
Nước mắt người rơi xuống, đ/ập lên lông cánh của ta.
Ta muốn nói, ngươi không phải chẳng làm được gì.
Những việc ngươi làm được, đã làm cả một đời rồi.
Ngươi c/ứu không hết được mọi người, nhưng ngươi đã c/ứu những kẻ có thể c/ứu.
Ngươi độ không hết được mọi người, nhưng ngươi đang độ.
Nhưng ta nói không nên lời.
Ta chỉ biết kêu chíp.
Cuối cùng ta nằm phủ phục trước ng/ực người, nhắm mắt lại.
Thầm nghĩ, khóc đi.
Khóc xong rồi, ngày mai còn phải đi c/ứu người.
Ngươi không phải là Bồ T/át, chẳng làm nổi Phật Tổ.
Ngươi là cái đồ đầu trọc ta nhặt được, còn ta là con chim ngươi nhặt được.
10
Ở biên quan được hai tháng, Tịnh Không g/ầy đi trông thấy, hai con mắt lõm sâu vào, gò má gồ cao hẳn lên.
Người vẫn đang khám bệ/nh cho người ta, sắc th/uốc, tụng kinh.
Một hôm, một toán địch binh đ/á/nh úp doanh trại.
Tên b/ắn như mưa bay tới, Tịnh Không đang thay th/uốc cho một thương binh, không hề phản ứng.
Ta thấy một mũi tên đang nhắm thẳng vào lưng người mà bay tới.
Không còn thời giờ nữa.
Ta xông tới.
Mũi tên ấy sượt qua cánh ta mà bay vụt đi, cuốn đi rất nhiều sợi lông, cũng cuốn đi một mảng thịt trên nửa cánh của ta.
M/áu từ cánh trào ra, ta đ/au đớn rơi từ trên trời xuống, rơi vào trong vũng bùn đất.
Tịnh Không nghe tiếng động, quay đầu thấy ta, đồng tử thình lình co rúm lại.
"Tiểu đồ vật!"
Người nhặt ta từ trong bùn lên, dùng dải vải băng bó vết thương cho ta.
Tay người run run.
"Ngươi không được ch*t... Ngươi không được ch*t..."
Ta đ/au đến toàn thân r/un r/ẩy, nhưng vẫn dùng mỏ khẽ khẽ mổ lấy ngón tay người.
Ta không sao, chẳng đ/au.
Người ôm ch/ặt ta vào lòng, áp sát lồng ng/ực.
Trên đoạn đường sau đó, người chẳng bao giờ để ta bay ở ngoài nữa.
Chúng ta ở biên quan suốt ba năm.
Ba năm ấy, Tịnh Không chữa khỏi cho mấy trăm thương binh, siêu độ cho cả ngàn vo/ng h/ồn.
Tiếng tăm người cũng từ đó mà lan truyền trong quân doanh.
Truyền đi rất thần bí, có kẻ nói người sờ một cái vào vết thương là khỏi, có kẻ nói người tụng kinh có thể khiến người ch*t sống lại, lại có kẻ bảo người là hóa thân của con gì đó dưới chân Quan Âm Bồ T/át.
Tướng quân cũng đến mời người uống rư/ợu.
Tướng quân là một người râu xồm, giọng lớn đến nỗi rung chuyển cả bát, nhất định thế nào cũng mời Tịnh Không một ly.
Tịnh Không từ tạ, nói không uống rư/ợu.
Tướng quân hỏi vậy ngươi uống gì, Tịnh Không đáp chỉ cần một chén nước trắng là được.
Tướng quân trợn mắt nhìn người hồi lâu, cuối cùng thực sự rót cho người một chén nước trắng.
"Lấy nước thay rư/ợu, kính tướng sĩ."
Thời gian trôi qua rất nhanh.
Tịnh Không uống nước trắng, ăn màn thầu, tụng kinh, vẫn như cũ khám bệ/nh cho người ta.
Ta ở bên cạnh nhìn, thầm nghĩ: Nếu ngươi là một vị Bồ T/át, thì Bồ T/át cũng thê thảm quá rồi.
May thay, mùa thu đến, chiến sự cuối cùng cũng dừng.
Tịnh Không lại bị cảm phong hàn, bệ/nh rất nặng.
Người nằm trong doanh trướng, sốt ba ngày ba đêm liền.
Ta ngồi xổm bên gối người, dùng cánh phủ lên trán người.
Lúc người mê man, miệng vẫn còn tụng kinh.
"... Độ hết thảy khổ ách... Độ hết thảy khổ ách..."
Độ độ độ, vẫn còn độ.
Chính mình sắp ch*t đến nơi rồi, vẫn còn nghĩ đến độ người khác.
Ngày thứ tư, người cuối cùng cũng lui sốt.
Sau khi mở mắt, việc đầu tiên lại là bò dậy đi thăm thương binh.
Dần dà, người trong quân doanh bắt đầu gọi người là "Phật sống".
Người cười lắc đầu: "Ta chẳng phải Phật sống."
Vậy ngươi là gì?
"Ta chỉ là một hòa thượng, một hòa thượng chẳng có ích gì."
Không, bản điểu thấy ngươi rất có ích.
Ta kêu chíp chíp phản đối, nhưng người nghe không hiểu.
Sau biên quan, Tịnh Không trở về trung nguyên.
Người đi đến kinh thành.
Kinh thành rất phồn hoa, trên phố chen chúc những người, xe ngựa như nước chảy, lụa là gấm vóc, đâu đâu cũng là mùi thơm từ tửu lâu.
Tịnh Không một thân cà sa xám xịt, đứng nơi đầu phố, tựa như con chim sẻ lem luốc ngồi giữa đám công.
Người tìm thấy một ngôi chùa lớn, muốn xin tá túc mấy ngày.
Vị tri khách tăng trong chùa nhìn người từ trên xuống dưới, thấy y phục người lam lũ tả tơi, vẻ mặt lộ vẻ khó xử.
"Sư phụ, chùa chúng tôi đây... dạo này khách phòng eo hẹp."
Tịnh Không hiểu rõ.
Người không nài ép, quay người bỏ đi.
Ta đứng trên vai người, tức đi/ên khiến lông lại xù lên.
Một lũ mắt trắng!
Tịnh Không lúc ở biên quan c/ứu người, các ngươi ở đâu?
Mấy năm này, lúc chưa từng được ngủ một giấc trọn vẹn, các ngươi ở nơi nào?
Đang tụng kinh? Đang ăn cơm? Đang thu tiền dầu hương của khách hành hương?
Tịnh Không có lẽ cảm nhận được ta xù lông, giơ tay vỗ vỗ đầu ta.
"Không sao, chúng ta ở miếu Thổ Địa."
Trong kinh thành có một ngôi miếu Thổ Địa đổ nát, dột gió dột mưa, chuột còn nhiều hơn người.
Tịnh Không quét dọn bên trong một phen, từ trong gói đồ lấy ra cái mõ của lão hòa thượng, đặt lên bàn thờ, lại thắp một ngọn đèn dầu.
Cứ thế mà ở lại.
Ban ngày người ra ngoài bày quán khám bệ/nh, tối về tụng kinh.
Người đến không nhiều, bá tánh kinh thành không dễ dàng tin người như vậy.
Nhưng Tịnh Không không vội.
Người từ tốn khám, từng người từng người tích lũy danh tiếng.
Ba tháng sau, người tìm đến người khám bệ/nh xếp thành hàng dài.
Một ngày kia, một chiếc kiệu dừng nơi đầu ngõ.
Trong kiệu bước xuống một người mặc quan phục, hỏi: "Vị nào là Tịnh Không sư phụ?"
Tịnh Không mặc lên bộ cà sa sạch sẽ duy nhất, tiến cung vào.
Ta ở cổng cung bị chặn lại, thị vệ nói chim không thể vào trong.
Tịnh Không quay đầu lại nhìn ta một cái, nói: "Đợi ta trở về."
Ta ngồi trên cây ngoài cổng cung đợi suốt cả một ngày.
Mặt trời mọc lên, rồi lại lặn xuống.
Cổng cung mở ra lại đóng vào.
Có người vào, có người ra.
Nhưng đều chẳng phải Tịnh Không.
Mãi đến khi trời tối đen như mực, Tịnh Không mới bị xô đẩy mà ra.
Trên mặt người có thêm mấy vết đỏ hằn, như thể bị t/át.
Ta bay tới, đỗ lên vai người, dùng mỏ chạm vào mặt người.
Người cười khổ một tiếng.
"Ta khuyên hoàng đế bớt thu thuế, thêm phát lương. Người ấy không vui."
"Người ấy bảo ta là một hòa thượng, không nên nhúng tay vào triều chính."
"Ta nói, hòa thượng cũng là người, bá tánh cũng là người. Người ăn không đủ no, sẽ nổi lo/ạn."
"Người ấy m/ắng ta là yêu tăng, sai người t/át ta, đuổi ra ngoài."
Ta tức gi/ận run lên bần bật, muốn bay trở lại mổ vào trán tên hôn quân kia.
Tịnh Không nắm lấy ta, ấn ta vào trong lòng.
"Đừng đi."
"Chíp!"
Chíp! Ta liều mạng chíp.
Ngươi chẳng phải nói thói đời không tốt sao? Ngươi chẳng phải nói bá tánh khổ sở sao? Ngươi chẳng phải nói người ăn không no sẽ nổi lo/ạn sao?
Ngươi đã nói ra, hắn đ/á/nh ngươi, đuổi ngươi, ngươi cứ thế mà thôi sao?
Ta không phục.
"Ngươi có đi cũng mổ chẳng ch*t được hắn. Và lại, ta không muốn ngươi ch*t."
Đôi cánh ta trong nháy mắt không đ/ập nữa.
Người ôm ta, dưới ánh trăng quay bước trở về.
Bóng lưng vừa g/ầy vừa dài, như một lão già lập cập.
Người mới ngoài ba mươi, nay trông đã như hơn bốn chục.
Đêm ấy người trở về miếu Thổ Địa, ngồi trước tượng Phật suốt cả một đêm.
Cái tượng Phật ấy thực chẳng phải là tượng Phật.
Thần tượng Thổ Địa công đã đổ từ lâu, đầu lăn vào góc tường, không biết bị người lấy đi từ bao giờ, chỉ còn nửa thân mình, xiêu xiêu trên bàn thờ.
Tịnh Không không tụng kinh, cũng chẳng nói gì.
Ta ngồi xổm trên vai người, bầu bạn với người suốt đêm.
Ánh trăng từ lỗ thủng mái nhà rỉ xuống, rơi trên đầu trọc của người, bóng loáng, như một hòn đ/á bị ánh trăng gột sạch.
Ta tựa vào người, thầm nghĩ: Không sao đâu.
Kinh thành chẳng cần ngươi, chúng ta đi nơi khác.
Thiên hạ rộng lớn thế này, luôn có chốn cần đến ngươi.
11
Hôm sau, Tịnh Không hạ một quyết định.
Người không tiếp tục khám bệ/nh cho người ta nữa.
Người muốn đi giảng kinh, đi nói cho những kẻ chịu khổ kia biết, vì sao phải chịu khổ, và làm sao mới có thể thoát ra khỏi khổ đ/au.
Ta hỏi người vì sao không khám bệ/nh nữa, người đáp: "Bệ/nh thì chữa được, còn khổ thì chữa không được."
Ta hiểu lơ mơ.
Người xoa xoa đầu ta: "Muốn độ người trước hết phải độ cái tâm. Tâm mà khổ rồi, thì thân thể dẫu có khỏe cũng vẫn khổ."
Ta nhớ lại những bệ/nh nhân người đã chữa khỏi.
Bà lão ở Đào Hoa Câu, ho đã khỏi, về nhà vẫn bị con dâu m/ắng;
Dị/ch bệ/nh ở Thanh Thạch trấn đã hết, những người ấy trở về, kẻ nghèo vẫn nghèo, người lo vẫn lo;
Những thương binh ở biên quan, mạng đã giành lại được, nhưng trong mơ vẫn hò hét ch/ém gi*t, đêm hôm gi/ật mình tỉnh giấc toát mồ hôi lạnh.
Bệ/nh khỏi rồi, nhưng khổ thì chưa khỏi.
Từ đó về sau, Tịnh Không biến thành một vị hòa thượng du phương giảng kinh.
Chợ búa, ruộng đồng, bến sông, gầm cầu, trong lều trà, tất thảy những nơi có đám đông.
Người ngồi xuống, lót gói đồ dưới mông, lấy chiếc mõ của lão tăng ra, cốc, gõ một tiếng.
"Chư vị, bần tăng giảng một đoạn Tâm Kinh."
Tâm Kinh, Kim Cang Kinh, Địa Tạng Kinh...
Có người nghe người bèn giảng, không ai nghe người cũng giảng.
Có khi người nghe đông, có khi người nghe ít.
Có lúc có kẻ ném lá rau thối vào người, m/ắng người là kẻ lừa gạt.
Người chẳng bao giờ đáp trả, lau sạch rồi lại tiếp tục giảng.
Đôi khi ta nghĩ, người có phải ngốc không?
Bị người ta m/ắng còn cười, bị người ta đ/á/nh vẫn cứ giảng kinh.
Nhưng thỉnh thoảng, ta thấy có kẻ nghe xong lời người, vành mắt đỏ hoe.
Có một phụ nhân dắt con đến nghe suốt một buổi chiều, lúc đi, nắm tay Tịnh Không mà rằng:
"Sư phụ, người nói phải, ta h/ận mẹ chồng ta hai chục năm, h/ận tới h/ận lui, khổ là chính mình ta. Ta không h/ận nữa. Ở cái thời buổi này, ta chỉ có thể tự thuyết phục chính mình, nghĩ thoáng cho mình, chăm lo cho mình thôi."
Tịnh Không cười: "A Di Đà Phật."
Lại có một lão đầu nhi, nghe kinh ba ngày, bỏ được rư/ợu suốt ba chục năm.
Con trai lão quỳ trên đất dập đầu tạ ơn Tịnh Không, Tịnh Không vội vàng đỡ dậy, nói: "Là cha của ngươi tự mình giác ngộ, chẳng liên quan gì đến ta."
Người luôn luôn không nhận công.
Ta sốt ruột, kêu chíp chíp muốn bảo với người: Chính là ngươi, chính là ngươi đã khiến hắn bỏ rư/ợu đấy!
Cái thứ ngươi giảng gọi là "tham sân si" ấy, hắn nghe tới chữ "tham" mặt đã đỏ bừng lên rồi, chẳng phải ngươi thì là m/a q/uỷ sao?
Tịnh Không không để ý đến ta, lấy ngón tay khẽ búng một cái vào đầu ta.
Rồi người gõ mõ, lại tiếp tục giảng.
Ngày tháng cứ thế trôi qua, Tịnh Không già rồi.
Tóc người đã bạc, lưng cũng c/òng, bước đi bắt đầu thở dốc.
Vậy mà người vẫn không chịu dừng lại.
Mùa xuân đi về hướng nam, mùa hạ đi về hướng bắc.
Mùa thu ngồi nơi ruộng lúa giảng kinh, mùa đông ngồi bên chậu than giảng kinh. Chẳng ai mời người, chẳng chùa nào nhận người, người cứ thế mà đi, cứ thế mà giảng.
Đôi khi ta nghĩ, người có phải đã quên rồi, chính mình cũng là con người?
Cũng sẽ già, sẽ mệt, sẽ ch*t.
Một ngày nọ, trên đường chúng ta gặp một lão đầu chăn dê.
Lão đầu hỏi người: "Sư phụ, người tuổi này rồi, còn chạy khắp nơi, mong cầu điều gì?"
Tịnh Không nghĩ rất lâu.
"Không biết nữa."
Lão đầu sững người.
"Thực sự không biết. Có lẽ là... thành quen rồi."
Chẳng bao lâu sau, thiên tai hạn hán ập đến.
Hoa màu ch*t hết, sông không còn nước, giếng cũng sắp cạn.
Bá tánh quỳ trước miếu Long Vương, dập đầu cầu mưa, dập đến nỗi trán rớm m/áu.
"Long Vương gia gia, mưa xuống đi, mưa không xuống nữa, người ta sống không nổi nữa rồi."
Tịnh Không đứng phía sau đám người, nhìn thật lâu.
Mấy hôm sau vào buổi tối, Tịnh Không lại tìm ta nói chuyện: "Tiểu đồ vật, ngươi theo ta đã bao lâu rồi?"
Ta nghĩ thử, từ bảy tuổi đến năm mươi tuổi.
"Chíp."
"Ngươi đã bầu bạn cùng ta đi suốt nửa cõi thiên hạ, thấy qua quá nhiều khổ sở."
Người cúi đầu, nhìn quyển kinh Phật trên bàn, ánh mắt rất bình thản.
"Tiểu đồ vật, ngày mai ta phải đi làm một việc."
"Chíp?"
"Ta muốn đi cầu mưa."
Ta tưởng người nói cầu mưa, là giống như những bá tánh kia, đến miếu Long Vương dập đầu.
Nào phải vậy.
Hôm sau, người lại dựng một cái đài cao ngay khoảng đất trống bên ngoài thôn.
Cao ba trượng, toàn bằng gỗ dựng nên, lung lay lắc lư.
Người mỗi bước một cái, cả cái đài đều chao động, dây thừng phát ra tiếng kẽo kẹt ken két.
Ta sợ đến mức không dám nhìn, mà lại chẳng thể không nhìn.
Mãi đến khi người ngồi xếp bằng lại, chắp tay nhắm mắt.
Đám bá tánh dưới đài ngửa đầu nhìn người, không biết người đang làm gì.
Tịnh Không mở mắt ra, nói với thôn trưởng: "Ta sẽ ngồi ở đây bốn mươi chín ngày. Nếu bốn mươi chín ngày sau trời không mưa, ta sẽ từ trên đài này nhảy xuống, lấy thân tuẫn đạo."
Dưới đài ầm một tiếng n/ổ tung.
Có kẻ bảo người là kẻ đi/ên, có kẻ bảo người là Phật sống thực sự, có kẻ bảo người đang làm màu lừa gạt.
Tịnh Không chẳng nói gì, nhắm mắt lại.
Bốn mươi chín ngày.
Không ăn không uống, không ngủ không nghỉ.
Ta bay lên đài, đậu trên vai người, liều mạng mổ vành tai người, muốn cho người tỉnh táo lại chút.
Người mở mắt ra, nhìn ta, ánh mắt rất nhu hòa.
"Tiểu đồ vật, ngươi đừng có đợi nữa. Trở về đi."
Ta ra sức lắc đầu, chíp chíp kêu lo/ạn.
Người cười cười, rồi lại nhắm mắt.
Một ngày, hai ngày, ba ngày.
Nền
Cỡ chữ
Giãn dòng
Kiểu chữ
Bạn đã đọc được 0% chương này. Bạn có muốn tiếp tục từ vị trí đang đọc?