Tôi siết ch/ặt đôi bàn tay g/ầy guộc, lạnh lẽo của bà, nước mắt không ngừng rơi xuống. Tôi kề sát tai bà, giọng nghẹn ngào hỏi bà có sợ không.
Bà nội khẽ lắc đầu, khóe miệng thậm chí còn vương một nét cười an nhiên.
"Có gì mà phải sợ?" Bà thở dốc, đ/ứt quãng nói, "Khi còn trẻ, bà một mình nấu ăn trong bếp, quạnh quẽ đơn côi, cả đời này đến một mụn con ruột th!t cũng chẳng có."
"Thế nhưng con nhìn xem bây giờ, chỉ cần bà nhắm mắt lại, ngoài cửa kia đã đứng sẵn mười đứa trẻ ngoan."
"Đời này của bà, lời lãi chán rồi."
Nói đoạn, bà dùng hết sức bình sinh chỉ tay xuống dưới gối. Tôi lần theo tay bà mò vào, lôi ra một cuốn sổ cũ đã bọc vải đỏ, rá/ch nát đến không thành hình.
Lật cuốn sổ ra, những trang giấy đã ố vàng, viết đầy những dòng chữ nguệch ngoạc của bà. Trên đó ghi chép rõ ràng ngày tháng chính x/ác mà từng người chúng tôi đến ngôi nhà này, lúc đó mặc quần áo gì, trên người có vết s/ẹo nào, ban đầu bao nhiêu tuổi.
Điều khiến tôi vỡ òa hơn cả là ở dòng cuối cùng của mỗi trang, bà đều ghi lại ngày chúng tôi lần đầu tiên cất tiếng gọi bà là "bà nội".
Trang cuối cùng, viết ngay ngắn tên tôi: Trình An, bên cạnh ghi chú ngày tuyết lớn năm đó, cùng với chiếc áo phao cũ kỹ.
Bà nội vỗ vỗ cuốn sổ, nhìn tôi, giọng điệu vô cùng nghiêm túc:
"An An, con nhớ kỹ."
"Năm đó bà đón từng đứa các con về, cho các con bát cơm, không phải để các con cả đời sau này cứ phải canh giữ bên cạnh bà già này, bưng bô đổ tiểu cho bà."
"Bà chỉ muốn các con biết thế nào là gia đình, muốn các con sau này lớn lên, có thể sống đàng hoàng, vui vẻ cuộc đời của riêng các con."
"Dù sau này bà không còn nữa, các con cũng không được phép nghĩ rằng cái nhà này đã tan. Các con ở đâu, nhà ở đó."
Đêm khuya hôm đó, bà nội tỉnh táo lần cuối. Bà cố chấp yêu cầu chúng tôi đỡ bà ngồi dậy dựa vào đầu giường, rồi bảo chín ông anh đứng hết trước giường. Bà cụ nhìn đám đàn ông từng nghịch ngợm phá phách, nay đã trở thành những trụ cột vững chãi, bà không dặn dò chuyện tiền bạc, cũng không sắp xếp hậu sự. Bà dùng chút sức lực cuối cùng, đọc lại rõ ràng ba câu mà năm xưa đã dán trên tường.
Chỉ có lần này, nó đã trở thành lời dặn dò nghiêm khắc:
"Sau này, không được đá/nh nhau gây chuyện."
"Không được cậy mình khỏe, có tiền rồi mà b/ắt n/ạt người yếu hơn mình."
"Bên ngoài dù bận đến đâu, trời tối rồi, đều phải nhớ về nhà ăn bát cơm nóng."
Dặn xong ba câu này, bà nội thở hắt ra một hơi dài, mệt mỏi nhắm mắt lại.
Một buổi sáng vài ngày sau, nắng vừa chiếu vào sân, bà nội đã lặng lẽ rời xa chúng tôi trong giấc ngủ.
15
Tháng đầu tiên sau khi bà nội qu/a đ/ời, chín ông anh lần đầu tiên trong đời nếm trải thế nào là thực sự vô gia cư. Trước đây, dù họ có chịu bao nhiêu ấm ức bên ngoài, hay ki/ếm được bao nhiêu tiền, chỉ cần đi đến đầu ngõ, đẩy cánh cổng sắt loang lổ kia ra, nhất định sẽ nhìn thấy bà nội ngồi trước cửa phe phẩy quạt nan. Đó là một trụ cột tinh thần không thể lay chuyển.
Nhưng giờ đây, cửa đẩy ra, chiếc ghế mây cũ kỹ bỗng chốc trống không. Gió thổi qua sân, trống trải đến lạnh lẽo, cô quạnh đến đ/áng s/ợ.
Ai cũng không biết nên đi đâu, cũng không biết đêm giao thừa nên đón ở nơi nào.
Chu Tranh thậm chí còn đề nghị khóa ch/ặt cánh cổng bằng xích sắt.
"Anh không chịu nổi," người đàn ông đầy vết s/ẹo ấy, đỏ mắt gửi tin nhắn thoại trong nhóm, "Mỗi lần đẩy cửa bước vào, anh cứ thấy như giây sau bà sẽ bưng chậu nước từ trong bếp đi ra. Khóa lại đi, coi như để lại một kỷ niệm, chúng ta ai nấy sống cuộc đời của mình thôi."
Anh ấy đang trốn tránh, tất cả họ đều đang trốn tránh nỗi đ/au khi mất đi chỗ dựa tinh thần.
Nhưng tôi không đồng ý.
Ngày 27 tháng Chạp trước Tết, tôi nhìn nhóm WeChat trống rỗng, kiên quyết gửi một tin nhắn:
"Ngày mai 28 tháng Chạp, tất cả, đúng giờ về nhà ăn cơm, ai dám không đến, sau này đừng nhận tôi là em gái nữa."
Gửi xong câu này, trong lòng tôi thực ra cũng không chắc chắn.
Nhưng đến sáng ngày 28 tháng Chạp, khi tôi đẩy cổng sân, tiếng ồn ào bên trong gần như muốn lật tung mái nhà.
Chín ông anh, không thiếu một ai, đều về hết.
Không chỉ họ về, Chu Tranh còn đưa theo người vợ mới cưới, anh ba dắt theo đứa con trai vừa tròn ba tuổi. Anh bảy xách hai thùng hải sản lớn. Trần Dữ cũng rất tự nhiên thắt tạp dề, đang đứng bên bồn nước ngoài sân giúp Trần Thực rửa rau. Hai người vì chuyện nhân sủi cảo là nên cho tôm hay nấm hương mà tranh luận đỏ cả mặt.
Tôi đặt túi xuống, đi thẳng đến dưới mái hiên, lấy chậu nước sạch, lau chùi tỉ mỉ chiếc ghế mây cũ đầy bụi bặm của bà nội, rồi đặt nó trở lại vị trí quen thuộc nhất.
Trong sân vẫn ồn ào náo nhiệt. Con trai anh ba chạy quanh sân đuổi theo một con mèo hoang; anh năm lấy kéo mang theo bên người, nhất quyết đòi c/ắt cho cháu trai một kiểu tóc "chất nhất", khiến đứa bé khóc oai oái; Chu Tranh theo thói quen châm một điếu th/uốc, ánh mắt quét khắp sân, cuối cùng dừng lại ở chiếc ghế trống không kia.
Ở đó quả thực không còn bóng dáng bà nội nữa.
Nhưng khi Chu Tranh quay đầu, nhìn thấy cả sân đầy ắp hơi thở cuộc sống, nhìn thấy những đứa em đang cãi nhau và chúng tôi đang cười nói gói sủi cảo, hốc mắt anh lại đỏ lên lần nữa.
Anh đột nhiên hiểu ra ý định của tôi khi cố gắng tập hợp mọi người lại.
Gia đình, căn bản không hề biến mất.
Bởi vì di sản bà nội để lại cho chúng ta, chưa bao giờ chỉ là một ngôi nhà cũ kỹ, hay một cuốn sổ ố vàng.
Thứ bà để lại cho chúng ta, là một tài sản tình cảm vô cùng phong phú.
Là dù mười người từng bị thế giới bỏ rơi này có đi đến đâu, chỉ cần nhớ đến bà, là biết nên yêu thương người khác thế nào, biết cách vun đắp một mái ấm ra sao.