Đó là đường lui mà ông ta tự chừa cho mình khi xây dựng hoàng lăng mười năm trước, ngay cả Tiêu Hành và Thái tử cũng không hề hay biết.
“Có đuổi theo không?” Thiết Hoa vác đ/ao định lao lên.
“Không đuổi.” Ta đ/è nàng lại, “Trước tiên c/ứu người đã. Ba ngàn người bị đóng băng suốt mười năm, không chịu nổi lâu đâu.”
Trương Thiết Trụ khập khiễng đi tới: “Thiếu chủ, doanh trướng của nghĩa phụ vẫn còn ngoài khe nứt, có cần lục soát không?”
“Lục soát.”
Thiết Hoa dẫn người xông vào soái trướng tạm thời mà nghĩa phụ dựng ngoài hoàng lăng. Nửa chén trà sau, nàng ôm ra một hộp đồng niêm phong sáp đỏ, trên nắp khắc ấn đầu sói của nghĩa phụ.
“Cô nương, lão cáo già này chạy quá gấp, ngăn bí mật dưới gầm giường chưa khóa ch/ặt.”
Ta cạy hộp đồng. Bên trong không có vàng bạc, chỉ có một bức mật thư niêm phong sáp đỏ, ấn triện là hình đầu sói của vương đình Bắc Địch.
Trải bức thư ra, nét chữ là thủ bút của Tiêu Hành--
[…Việc mượn đường qua cánh đồng tuyết phương Bắc đã thuyết phục được Thẩm Liệt. Năm vạn kỵ binh sau khi qua Nhạn Môn Quan sẽ tiến thẳng về kinh thành. Việc thành, c/ắt ba thành phương Bắc cho Địch Vương…]
Ta nhìn chằm chằm bức thư, bỗng bật cười.
Nghĩa phụ, lão cáo già này. Ông ta luôn nắm giữ quân bài này trong tay. Tiêu Hành thông địch, ông ta sớm đã biết, nhưng vẫn luôn giấu kín, chuẩn bị dùng nó để u/y hi*p Tiêu Hành hoặc u/y hi*p Hoàng đế vào thời khắc mấu chốt. Hôm nay thất bại thảm hại ở hoàng lăng, ông ta chạy trốn quá vội vàng nên đã đá/nh rơi lá bùa hộ mệnh này.
“Cô nương,” Thiết Hoa ghé lại gần, trợn tròn mắt, “Tiêu Hành, tên s/úc si/nh đó… thật sự thông địch sao?”
“Không chỉ thông địch,” ta gấp mật thư lại, nhét vào lòng ngựk, “còn muốn đổ vỏ lên đầu cha ta nữa.”
Xa xa, trước trận Ưng Kỵ, cây cột cờ trống không kia đang bay phấp phới trong gió tuyết.
Ta dìu Trương Thiết Trụ, dẫn theo Thiết Hoa và Tiểu Mãn, cùng ba ngàn bộ hạ cũ khập khiễng bước ra khỏi khe nứt hoàng lăng.
Phía sau, Ưng Kỵ lặng lẽ theo sát.
09
Sau khi nghĩa phụ thoát khỏi hoàng lăng, ông ta dẫn tàn quân trực tiếp trở về kinh thành.
Ba ngày sau, mật thư của Truy Phong Môn gửi đến doanh trướng của ta: “Nghĩa phụ cắn ngược lại, tâu lên việc ngươi n/ổ hoàng lăng, tư tàng binh khí, b/ắt c/óc khổ dịch, mưu đồ tạo phản. Hoàng đế chưa chuẩn cũng chưa bác, đang chờ.”
Ta đ/ốt thư, nhìn ba ngàn bộ hạ cũ đang dàn trận ngoài trướng.
“Thiết Hoa, truyền lệnh cho Truy Phong Môn.
Gửi thư cho các bộ tướng cũ của cha ta khi còn sống-- con gái của Thẩm Liệt đã trở về, ai muốn về nhà, hãy đến dưới bia không chữ.”
“Cô nương,” Thiết Hoa gãi đầu, “Triều đình đã thu biên phần lớn người, họ… dám tới sao?”
“Triều đình thu biên là lính,” ta áp miếng ngọc bội lên vết tên trên bia không chữ, “Còn người cha ta nuôi là con người. Lính nghe lệnh triều đình, còn người thì nghe lệnh nhà họ Thẩm.”
Trong vòng nửa tháng, các mật sứ của Truy Phong Môn như chim én bay về từ khắp mọi ngả.
Thủ tướng Nhạn Môn Quan là Lý Hoành dẫn ba ngàn người đến quy thuận. Ông nói chủ soái mới do triều đình phái tới c/ắt xén lương bổng, anh em sớm đã muốn tạo phản.
Thống lĩnh doanh du kỵ phương Bắc là Mạc lão thất dẫn năm ngàn người đến quy thuận. Ông nói mười năm qua chưa từng nhận một đồng tiền nào của triều đình, đều dựa vào ruộng đất cũ của nhà họ Thẩm để nuôi sống.
Tám trăm thợ mỏ ở hẻm Ưng Chủy mang theo số đ/ao họ tự rèn đến quy thuận. Họ nói đã đợi ngày này suốt mười năm.
Đến tháng thứ ba, dưới bia không chữ đã tụ họp năm vạn sáu ngàn người. Không phải ba mươi vạn, nhưng đủ dùng rồi.
Mật thư của Truy Phong Môn chưa bao giờ dứt.
“Nghĩa phụ dâng bảy bản tấu, đều bị bệ hạ đ/è xuống.”
“Thái tử âm thầm điều tra đường hầm hoàng lăng của nghĩa phụ, tìm được bằng chứng phụ về việc nghĩa phụ tư thông với Bắc Địch.”
“Tiêu Hành bị quản thúc trong phủ, vẫn thông qua đường hầm mật để qua lại với Bắc Địch.”
“Vương đình Bắc Địch nhận được mật thư của Tiêu Hành, năm vạn kỵ binh đã qua núi Sói, mục tiêu là Nhạn Môn Quan.”
Mỗi bức thư xem xong, ta đều đ/ốt sạch. Tro bụi rải trong tuyết, như thể tảo m/ộ cho cha.
Tháng thứ tư, lão già Truy Phong Môn lại tới.
“Thiếu chủ,” lão quỳ một gối, dâng lên lệnh bài bằng huyền thiết, “Thứ tướng quân dặn mười năm trước, đến lúc phải đưa cho người rồi.”
Đó là bức lụa thư của cha:
[Vi nhi thấy chữ: Ưng Kỵ nhận xươ/ng cốt, không nhận huyết mạch. Cha chia mạng sống của ba mươi vạn huynh đệ thành ba phần-- một phần cho Ưng Kỵ, một phần cho bộ hạ cũ, một phần cho con. Nghĩa phụ là d/ao, Hoàng đế là tay, Tiêu Hành là đ/á mài d/ao. Nếu con là kẻ xươ/ng cốt mềm yếu, gả cho người rồi nghe lời đàn ông, những thứ này sẽ mục nát dưới đất. Nếu con là kẻ xươ/ng cốt cứng cỏi…]
[Tự mình đến lấy.]
Phía dưới cùng của lụa thư vẽ bản đồ địa hình thung lũng cánh đồng tuyết, chú thích một dòng chữ nhỏ:
[Ngoài Nhạn Môn Quan, hẻm Ưng Chủy. Địa Long ch/ôn ở hai bên vách núi. Nếu Bắc Địch đến, hãy dẫn dụ chúng vào.]
Tháng thứ năm, năm vạn kỵ binh Bắc Địch mượn đường qua cánh đồng tuyết, tiền quân đã qua hẻm Ưng Chủy.
Thiết Hoa gi/ận dữ: “Cô nương! Tiêu Hành, tên s/úc si/nh đó, bản thân không sống nổi còn muốn kéo cả thiên hạ ch/ôn cùng!”
Ta nhìn bản đồ, ngón tay điểm vào hẻm Ưng Chủy: “Ở đây. Cha từng nói, một người giữ cửa, vạn người không thể qua.”
“Truyền lệnh. Ưng Kỵ đi trước, bộ hạ cũ theo sau. Không đón địch, chỉ chặn gi*t. Chặn đến mức chúng không dám đặt chân lên cánh đồng tuyết thêm một bước nào nữa.”
Ba ngày sau, hẻm Ưng Chủy.
Năm vạn kỵ binh Bắc Địch bị Ưng Kỵ c/ắt thành ba đoạn. Tuyết lở đổ xuống từ hai bên vách núi-- không phải thiên tai, mà là cơ quan Địa Long mà cha đã cho người ch/ôn mười năm trước.
Trong thung lũng x/ác ch*t ngổn ngang, Bắc Địch tan rã.
Ta không gi*t sạch, chỉ thả một tên truyền tin, bảo hắn mang một câu nói về vương đình Bắc Địch:
“Xươ/ng cốt của Thẩm Liệt vẫn còn đó. Nếu còn tới, thứ bị bẻ g/ãy chính là xươ/ng sống của các ngươi.”
10
Sau trận chiến, Trương Thiết Trụ cầm đ/ao, đứng trong tuyết rất lâu. Ông quay đầu nhìn về phía Nam, giọng khàn đặc:
“Thiếu chủ, đã đến lúc vào kinh rồi.”
“Ừ.” Ta áp bức lụa thư của cha lên tim, “Đã đến lúc đi thu n/ợ rồi.”
Ta dẫn Ưng Kỵ về kinh phục mệnh.
Không phải tạo phản. Là khải hoàn.
Năm vạn sáu ngàn quân Thẩm gia dừng ngựa cách thành ba mươi dặm, Ưng Kỵ đi đầu. Ba ngàn bộ hạ cũ dàn trận cách thành mười dặm, giáp đen như sắt. Ta chỉ dẫn theo Thiết Hoa, Trương Thiết Trụ và một cây cột cờ trống không, đi xuyên qua cửa Chu Tước, bước lên từng bậc thềm.
Đầy triều văn võ đứng trên bậc thềm điện, không ai dám lên tiếng.
Trên điện Kim Loan, Hoàng đế ngồi cao trên ngai vàng, Thái tử cúi đầu đứng một bên. Mãng bào của Tiêu Hành đã đổi thành màu trắng nhạt, cúi đầu, tay bị xích sắt khóa ch/ặt. Nghĩa phụ đứng hàng đầu tiên của văn quan, triều phục tím đỏ chỉnh tề, nhưng không giấu nổi sự k/inh h/oàng trong đáy mắt.
Ông ta tưởng ta sẽ dẫn quân vây thành. Nhưng ông ta đợi một năm, thứ đợi được không phải là thiên binh vạn mã--
Mà là ta, dẫn theo tiệp báo của Bắc Địch, một mình bước vào.
“Thẩm Tri Vi,” giọng Hoàng đế khàn đặc, tay siết ch/ặt thành ghế ngai vàng đến trắng bệch, “Ngươi muốn gì?”
Ta đứng giữa điện, sống lưng thẳng tắp, không quỳ, không lạy, thậm chí eo cũng không hề cúi.
“Bệ hạ, thần nữ không cần phong thưởng, không cần tước vị, không cần binh quyền.”
“Thần nữ chỉ cần ba câu nói.”