với danh nghĩa “vì tốt cho cậu”, trực tiếp dẫn người đến tận nhà Hạ Thanh Sơn.
“Thanh Sơn à, cô sinh viên đại học kia sớm đã trở thành phượng hoàng bay khỏi tổ rồi, cậu đừng có cố chấp nữa, Tú Chi ở làng bên mới góa chồng, làm lụng tháo vát người cũng chân chất, hai đứa gom góp lại với nhau, sớm sinh cho cậu thằng cu m/ập mạp mới là chuyện quan trọng.”
Đến năm thứ tư, ngay cả vị đội trưởng đại đội vốn luôn ra vẻ quan cách cũng không nhìn nổi nữa.
Ông ta đặc biệt gọi Hạ Thanh Sơn đến văn phòng đại đội, rót cho anh chén trà, tận tình khuyên bảo: “Thanh Sơn, không phải chú nói cậu, cậu như thế này là không nhìn rõ tình hình! Lâm Thanh Hòa nhìn là biết sắp tốt nghiệp đại học rồi, tốt nghiệp xong đó chính là cán bộ chính thức hưởng lương nhà nước! Người ta sau này là làm việc trong tòa nhà cơ quan, làm sao có thể còn nhận cậu là gã thợ nề đầy bùn đất này? Sớm c/ắt đ/ứt ý niệm đi, lo tính toán lại cho bản thân đi.”
Đối mặt với những lời dị nghị và khuyên can của cả ngôi làng, Hạ Thanh Sơn trước sau như một không hề biện minh cho tôi nửa lời.
Bất kể người khác nói khó nghe đến đâu, anh chỉ cúi đầu cặm cụi làm việc.
Trở về nhà, rửa sạch bùn đất trên tay, anh cẩn thận vuốt phẳng từng bức thư tôi gửi về, xếp ngay ngắn vào một chiếc hộp sắt cũ, khóa ch/ặt lại, giấu dưới gầm giường.
Có một lần, một người trong làng thực sự không nhịn được, hỏi anh: “Anh Thanh Sơn, anh rốt cuộc còn phải đợi bao lâu nữa? Lỡ cô ấy thật sự không về thì sao?”
Hạ Thanh Sơn ngồi xổm trong sân mài d/ao xây, đ/á mài phát ra tiếng sột soạt.
Anh lau mồ hôi trên trán, giọng điệu vô cùng bình tĩnh kiên định:
“Cô ấy chưa nói là không về.”
“Vậy thì anh không thể thay cô ấy nói được.”
Bên ngoài, anh thể hiện mình như một pháo đài không thể công phá.
Nhưng thực tế, trong những đêm sâu thẳm, anh đã chuẩn bị sẵn phương án x/ấu nhất cho tôi.
Anh một mình đến công xã vài lần, khiêm tốn nhờ người giúp đỡ, soạn thảo và viết sẵn một lá đơn ly hôn.
Anh đã nghĩ kỹ, nếu hết thời hạn bốn năm, Lâm Thanh Hòa sau khi tốt nghiệp muốn ở lại tỉnh lỵ phồn hoa, muốn có cuộc sống tử tế hơn, anh sẽ lập tức ấn dấu tay vào lá đơn này.
Anh thà khoét đi trái tim mình, cũng tuyệt đối không để cuộc hôn nhân thô ráp này trở thành vật cản khiến cô ấy không thể bay tới bầu trời rộng lớn hơn.
10
Còn ở tỉnh lỵ cách xa hàng trăm cây số, tôi cũng thực sự đứng trước ngã rẽ cuộc đời, đối mặt với lựa chọn khó khăn về việc ở lại thành phố.
Trước khi phân công tốt nghiệp, viện thiết kế kiến trúc danh tiếng ở tỉnh lỵ đã để mắt đến thành tích toàn ưu trong bốn năm qua và sự thể hiện xuất sắc của tôi trong các dự án thực tập, chủ động đề nghị với khoa, hy vọng tôi có thể ở lại.
Đó là bát cơm vàng mà vô số bạn học chen chúc cũng không vào được.
Ngay cả vị giáo sư già luôn dẫn dắt tôi làm dự án cũng đặc biệt tìm tôi nói chuyện.
Vị giáo sư đẩy cặp kính lão, tâm huyết khuyên tôi: “Thanh Hòa, nền tảng chuyên môn của em cực tốt, lại có sự kiên trì, ở lại đơn vị cấp tỉnh, em tiếp xúc đều là những dự án mang tính biểu tượng lớn, tầm nhìn của em sẽ mở rộng hơn, tốc độ phát triển cũng sẽ cực nhanh, đi xuống thì dễ, muốn đi lên nữa thì khó như lên trời.”
Ở lại tỉnh lỵ, nghĩa là sở hữu con đường nhựa rộng rãi, văn phòng sáng sủa, hộ khẩu thành phố ưu việt, và tương lai kiến trúc sư rạng rỡ.
Tôi không hề nóng đầu mà từ chối ngay lập tức.
Tôi cầm tờ đơn nguyện vọng tiếp nhận của đơn vị tỉnh lỵ, một mình đi dạo suốt đêm trên sân vận động, nghiêm túc, lý trí so sánh hai con đường hoàn toàn khác biệt.
Cuối cùng, vào buổi sáng ngày nộp đơn phân công, tôi dứt khoát đẩy cửa văn phòng cố vấn.
Tôi chủ động từ bỏ chỉ tiêu của viện lớn tỉnh lỵ, xin vào đơn vị thiết kế kiến trúc cấp huyện nơi quê hương tôi.
Đơn vị thiết kế ở huyện thiếu nhân tài chuyên môn được đào tạo bài bản, ở đó trăm thứ đều cần làm mới, điều kiện gian khổ.
Nhưng tôi hiểu rõ, tôi tuyệt đối không phải vì cái gọi là “tình yêu” hư ảo mà m/ù quá/ng hy sinh sự nghiệp của mình.
Ngược lại, công việc tôi chọn, vừa vặn có thể khiến kiến thức chuyên môn tôi học được trong bốn năm qua, thực sự đặt chân lên mảnh đất đó.
Quan trọng hơn, đây không chỉ là sự hạ cánh của sự nghiệp, mà còn là sự bù trừ hoàn hảo với Hạ Thanh Sơn.
Tôi hiểu bản vẽ, hiểu cơ học, hiểu quy hoạch hệ thống. Anh hiểu gạch đỏ, hiểu vữa bùn, hiểu kỹ thuật thi công nền tảng vững chắc.
Tỉnh lỵ không thiếu một người vẽ bản vẽ mới vào nghề như tôi, nhưng cái huyện thành đang trỗi dậy đó, lại cần những người như tôi và Hạ Thanh Sơn.
Tôi hoàn tất mọi thủ tục tiếp nhận, nhận được tờ thông báo báo danh đơn vị thiết kế kiến trúc huyện đỏ chót.
Nhưng tôi không hề gửi một lá thư nào báo trước tin này cho Hạ Thanh Sơn.
Những tờ giấy viết thư mỏng manh đó, không gánh nổi sức nặng của quyết định này.
Tôi muốn tận mắt nhìn vào mắt anh, tự miệng mình nói cho anh biết tất cả những điều này.
11
Sáng sớm ngày tốt nghiệp, tỉnh lỵ có mưa phùn lất phất.
Tôi không đi dự tiệc chia tay của các bạn học.
Trong tay tôi xách một chiếc vali cũ sờn góc, bên trong đựng bằng tốt nghiệp đại học mà tôi vô cùng trân trọng, cùng với xấp sách chuyên ngành dày cộm tích góp được trong bốn năm qua.
Tôi chen lên chuyến tàu hỏa màu xanh quen thuộc, ngồi suốt một ngày một đêm, sau đó lại chuyển sang chuyến xe khách đường dài vô cùng gập ghềnh ở huyện.
Khi tôi cuối cùng đến bến xe huyện, trời đã tối hẳn.
Chuyến xe cuối cùng về công xã nơi đại đội chúng tôi ở đã chạy từ lâu.
Tôi không tìm nhà khách để ở.
Tôi móc mấy đồng xu còn sót lại trong túi, vất vả chặn lại một chiếc máy kéo chở gạch đi cùng đường ở ven đường.
Động cơ máy kéo phát ra tiếng gầm rú dữ dội, xóc đến mức khung xươ/ng tôi như sắp rời ra.
Đến ngã ba đường, máy kéo rẽ hướng, hơn hai mươi dặm đường còn lại, toàn là đường đất không có đèn đường.
Tôi xách chiếc vali nặng trĩu, bước thấp bước cao đi trên con đường đất vàng trong đêm tối.
Trong giày đầy cát, vai bị quai vali siết ra những vết m/áu, nhưng tôi bước đi kiên định, bước chân ngày càng nhanh.