Chưa đến giờ ngọ, huyện nha đã m/ua về hai cỗ qu/an t/ài mỏng.
Người của Thôi Cảnh Hành đã chuẩn bị xe ở cửa thành, ta theo những người khiêng qu/an t/ài đến nghĩa trang phía tây thành.
Trước khi đóng nắp qu/an t/ài, ta đặt chiếc giày bông ch/áy đen vào trong.
Mũi giày lộ ra ngoài một chút, ta vươn tay đẩy vào trong.
Mấy phu dịch nhanh chóng đóng đinh nắp qu/an t/ài, rồi đào một cái hố nông đặt qu/an t/ài xuống.
Vai ta vẫn còn đ/au, dưới sườn cũng bầm tím một mảng lớn, chỉ có thể vịn vào cái cây bên cạnh, nhìn họ từng xẻng từng xẻng lấp đất xuống.
Thôi Cảnh Hành vẫn luôn đợi dưới sườn dốc.
Khi xẻng đất cuối cùng rơi xuống, hắn bước lại gần: "Đi thôi."
Ta đứng im không nhúc nhích, ngoái đầu nhìn lại một lần nữa, trên ngôi m/ộ mới chẳng có gì cả, ngay cả tấm bia cũng không kịp dựng.
Thôi Cảnh Hành bảo người ghi lại tên Hà thư lại, nói rằng sau này quay lại sẽ bù đắp sau.
Ta không hỏi cái "sau này" đó là bao lâu.
Chúng ta rời Nhạn Hồi Quan trước khi cửa thành khóa lại.
Thôi Cảnh Hành dẫn theo tám người, hai con ngựa kéo một chiếc xe mui vải xanh, toàn bộ số giấy tờ chép được đều giấu trong ngăn bí mật dưới đáy xe.
Ta bị thương nặng, chỉ có thể ngồi xe.
Khi bánh xe lăn qua phiến đ/á dưới cửa thành, ta vén rèm nhìn ra ngoài một cái.
Tường đông vẫn đang sửa, nơi hôm qua khiêng x/ác ch*t đã được rắc một lớp tro bếp dày.
Nơi Hàn Thuyên Trụ và những người khác nằm lại, đã không còn thấy nữa.
Xe ra khỏi thành, đi thẳng về hướng nam.
Trời nhanh chóng tối sầm, đi được hơn hai mươi dặm, phía trước bỗng truyền đến tiếng ngựa hí.
Ta còn chưa ngồi vững, thân xe đã nghiêng mạnh sang một bên.
Bên ngoài có người hét lớn: "Có phục kích!"
Tiếp đó là tiếng đ/ao ki/ếm va chạm.
Một mũi tên xuyên qua rèm xe, cắm phập vào tấm ván gỗ sau lưng ta.
Ta lập tức cúi rạp người, nắm ch/ặt thành xe giữ vững bản thân.
Mũi tên thứ hai sượt qua càng xe, ngựa kéo bị kinh động, kéo xe lao về phía lề đường.
Phu xe ghì ch/ặt dây cương, hét lớn: "Xuống xe!"
Ta lăn xuống từ bên kia, vừa bò dậy đã thấy năm sáu người lao ra từ cánh rừng phía trước.
Người của Thôi Cảnh Hành đã nghênh chiến.
Hai bên đường quan đạo đều là núi, đi tiếp là cửa hẹp, phía sau cũng có người đuổi theo.
Ta áp sát mép rãnh lùi lại hai bước, chân bỗng đ/á trúng một tảng đ/á.
Một đoạn bia đ/á bị ch/ôn trong tuyết, trên đó chỉ còn lại chữ "Dịch" mờ nhạt.
Ta ngồi xổm xuống gạt tuyết, lại nhìn thấy một vết bánh xe bị cỏ dại che lấp bên cạnh.
Ta ngẩng đầu hét: "Thôi Ngự sử! Bên này có đường!"
Hắn đang trên lưng ngựa đỡ đ/ao, nghe tiếng liền quay lại.
Một thị vệ bên cạnh vội nói: "Ở đây làm gì có đường?"
"Có." Ta chỉ vào sâu trong khe núi, "Cũ đường dịch trạm ngày xưa, đã bỏ hoang từ lâu rồi. Đi dọc theo cái rãnh này, phía trước có một máng ngựa cũ, qua máng ngựa rẽ trái là có thể vòng ra khỏi cửa núi."
Thị vệ kia còn định nói gì đó, Thôi Cảnh Hành đã lật người xuống ngựa: "Đi đường này."
Có người ở lại chặn hậu, những người còn lại hộ tống xe rút vào trong rãnh.
Xe quá rộng, không vào được đường cũ.
Thôi Cảnh Hành bảo người lấy hết đồ trong ngăn bí mật ra, chia nhau đeo trên người, xe và hai con ngựa cùng bị bỏ lại bên quan đạo.
Ta cũng ôm một túi giấy.
Thôi Cảnh Hành vươn tay lấy: "Đưa ta."
"Ta đi được."
Hắn nhìn ta một cái, không giành nữa, chỉ nói: "Theo sát vào."
Đường dịch trạm cũ hẹp hơn nhiều so với trí nhớ của ta.
Dưới lớp tuyết toàn là đ/á vụn, ta đi từng bước nặng nề, mỗi lần xóc nảy là sườn lại đ/au nhói.
Phía sau nhanh chóng truyền đến tiếng vó ngựa, chúng đuổi kịp rồi.
Chúng ta rảo bước nhanh hơn, men theo đường cũ chạy thẳng.
Đến một ngã rẽ, vết bánh xe trên đất bỗng đ/ứt đoạn.
Có người hỏi ta: "Đường nào?"
Ta nhìn ngã rẽ, nhanh chóng nhớ lại cảnh đi con đường này cùng cha năm đó.
Năm đó cũng là mùa đông, quan đạo bị tuyết chặn, cha đưa ta đi vòng qua đây. Khi đến ngã rẽ, ông còn đặc biệt chỉ cho ta xem một tấm bia dịch trạm bị g/ãy bên đường.
"Ghi nhớ cái này, rẽ trái. Đi thêm nửa dặm nữa là trạm dịch bỏ hoang."
Ta ngồi xổm xuống gạt tuyết bên đường, nhanh chóng chạm vào đoạn bia đ/á bị ch/ôn dưới đất.
Ta đào thêm hai nhát, trên đó quả nhiên lộ ra chữ "Dịch" tàn khuyết.
"Bên trái."
Ta đứng dậy rẽ trái, mọi người vội vàng đuổi theo.
Đi thêm chưa đầy nửa dặm, phía trước quả nhiên lộ ra một đình dịch cũ sập một nửa, cái máng ngựa bằng đ/á dưới chân tường vẫn còn đó.
Thôi Cảnh Hành nhìn ta, không nói gì, chỉ giơ tay bảo mọi người đi tiếp.
Con đường nhỏ chở cỏ phía sau đình dịch rất hẹp, ngựa không qua được.
Truy binh đến đây, chỉ có thể xuống ngựa.
Họ chậm lại, chúng ta liền tranh thủ vượt qua đoạn đường đó, chạy đến tận nửa đêm mới thấy ánh đèn của một dịch bảo khác.
Người giữ dịch nghe Thôi Cảnh Hành xưng chức quan, liền vội vàng mở cửa.
Ta vào cửa liền ngồi bệt xuống đất, nửa ngày không đứng dậy nổi.
Có người đưa nước cho ta, ta uống hai ngụm, cúi đầu mới phát hiện tay mình vẫn ôm ch/ặt túi giấy.
Thôi Cảnh Hành ngồi xổm xuống, lấy nó khỏi ngựk ta: "Không ai cư/ớp nữa đâu."
Ta buông tay, mười ngón tay đã tím ngắt vì lạnh.
Hắn nhét lò sưởi tay của mình cho ta, rồi đứng dậy đi xem những thị vệ bị thương.
Khi trời gần sáng, chúng ta đổi xe ngựa mới.
Ta dựa vào xe ngủ một giấc, đến khi tỉnh lại, bên ngoài đã không còn thấy Nhạn Hồi Quan nữa.
Sau đó, xấp sổ sách của Nhạn Hồi Quan được đưa thẳng về kinh thành.
Phòng giữ cửa quan, kho lương c/ứu tế và quân doanh lần lượt bị bắt hơn mười người, lần theo quân lương lại tra ra thêm vài quan lại phụ trách.
Những cái tên mà Hà thư lại chép lại đêm đó, đều trở thành bằng chứng trong hồ sơ vụ án.
Vụ án đó tra suốt hơn nửa năm mới kết thúc.