Nhà của tôi, bốn năm trước đã tắt đèn. Giờ đây, có kẻ đến cả chút tro tàn ấy cũng không muốn để lại cho tôi.

Tôi quay người, bắt đầu thu dọn đồ đạc. Vài bộ quần áo để thay, sạc pin, máy tính xách tay, và cả chiếc điện thoại vỡ màn hình kia. Tôi phải về quê. Đi ngay bây giờ.

Mười một giờ đêm, tôi lên chuyến xe khách cuối cùng về quê. Xe rất cũ, phần mút của ghế đã lòi cả ra ngoài. Hành khách không nhiều, tôi chọn vị trí cuối cùng cạnh cửa sổ. Khi xe khởi động, tôi gửi cho chủ nhà một tin nhắn WeChat, nói có việc đột xuất nên về quê, tiền thuê nhà sẽ chuyển đúng hạn. Sau đó tôi tắt điện thoại.

Ngoài cửa sổ, ánh đèn thành phố dần xa rồi biến mất hẳn vào bóng tối. Hai bên đường cao tốc là những cánh đồng bát ngát, thỉnh thoảng mới có vài đốm sáng lẻ loi từ những ngôi làng phía xa. Tôi không ngủ được. Trong đầu cứ lặp đi lặp lại mọi chuyện xảy ra suốt bốn ngày qua—từ cuộc điện thoại đầy tiếng nức nở của Thẩm Mỹ Lan, chuyện Chu Chí Viễn đòi áo khoác đen, cuộc đàm phán ở trà lâu, đến sự xuất hiện bất ngờ của Tô Hiểu. Mỗi sự việc đều giống như một mảnh ghép, nhưng hình ảnh hiện ra lúc này khiến tôi không dám nhìn kỹ.

Ba giờ sáng, xe khách dừng lại ở bến xe thị trấn. Tôi xách ba lô xuống xe, quảng trường trước bến vắng tanh, chỉ có vài chiếc taxi chờ khách đang bật đèn. Tôi lên một chiếc: “Khu chung cư Quế Hoa.”

Tài xế là một người đàn ông trung niên ngoài năm mươi, nhìn tôi qua gương chiếu hậu: “Về muộn thế à?”

“Vâng.”

“Nghe giọng là người địa phương, đi làm xa à?”

“Vâng.”

Ông ta không hỏi thêm nữa. Chiếc xe chạy qua những con phố đang say ngủ của huyện lỵ, hàng cây ngô đồng hai bên đường đổ những cái bóng dài dưới ánh đèn đường. Bốn năm rồi, nơi này không thay đổi nhiều, chỉ là vài cửa tiệm đã đổi bảng hiệu.

Đến khu Quế Hoa. Tôi trả tiền rồi xuống xe, đứng dưới tòa nhà số 3. Cửa sổ căn 402 tối om. Tôi ngước nhìn một lúc lâu mới bước vào cửa đơn vị nhà.

Đèn cảm ứng ở cầu thang đã hỏng, tôi mò mẫm đi lên tầng bốn. Tìm chiếc chìa khóa đã mài đến sáng bóng trên chùm chìa khóa, cắm vào ổ. Xoay nhẹ. Cửa mở.

Một luồng không khí trộn lẫn giữa bụi bặm và mùi ẩm mốc ập tới. Tôi bật đèn pin điện thoại, chiếu sáng lối vào. Tủ giày vẫn còn đó, trên mặt tủ bày một chiếc bình hoa trống không. Bức ảnh gia đình treo trên tường vẫn còn—chụp vào sinh nhật mười lăm tuổi của tôi, tôi đứng giữa, bố mẹ đứng hai bên, cả ba người đều cười rất khờ khạo.

Tôi không bật đèn, sợ làm kinh động hàng xóm. Nhờ ánh sáng điện thoại, tôi bước vào phòng khách. Đồ đạc đều được phủ vải chống bụi, trông như những bóng m/a im lìm. Ngoài ban công, mấy chậu hoa nhài mẹ tôi trồng đã ch*t khô từ lâu, chỉ còn lại những cành khẳng khiu.

Tôi đi đến trước cửa phòng ngủ của bố mẹ, tay đặt lên nắm cửa, đứng hồi lâu không dám đẩy ra. Cuối cùng, tôi vẫn đẩy cửa.

Căn phòng vẫn giữ nguyên dáng vẻ của bốn năm trước. Giường chiếu được xếp gọn gàng, trên tủ đầu giường vẫn bày cặp kính lão của bố và cuốn sách đọc trước khi đi ngủ của mẹ. Cửa tủ quần áo đóng kín, gương phủ đầy bụi.

Tôi đi đến trước tủ, kéo cánh cửa ra. Quần áo vẫn còn đó. Bộ vest của bố, chiếc váy liền của mẹ, được treo phân loại theo mùa. Ở ngăn dưới cùng có một chiếc ngăn kéo, tôi kéo ra, bên trong là những giấy tờ quan trọng—sổ đỏ, sổ hộ khẩu, giấy đăng ký kết hôn, và cả giấy khai sinh của tôi. Tôi lấy sổ đỏ ra, mở ra xem. Chủ sở hữu: Lâm Kiến Quốc, Trần Ngọc Phân. Đồng sở hữu: Không.

đ/è bên dưới là một bản hợp đồng bảo hiểm. Bảo hiểm nhân thọ của bố mẹ, người thụ hưởng ghi tên tôi. Số tiền không nhỏ, nhưng hồi làm thủ tục bồi thường tôi mới biết, họ mới m/ua bảo hiểm được chưa đầy hai năm, nhiều điều khoản không có hiệu lực, số tiền bồi thường cuối cùng chỉ bằng một nửa số tiền trên hợp đồng. Đây cũng là lý do vì sao tiền bồi thường chỉ còn lại hơn hai mươi vạn.

Tôi cất đồ lại vào chỗ cũ, đóng tủ. Sau đó đi đến trước bàn làm việc. Bàn có hai ngăn kéo, một cái khóa, một cái không. Ngăn không khóa đựng những vật dụng hàng ngày: bút, sổ, máy tính, sạc điện thoại cũ. Còn cái đã khóa, chìa khóa đâu?

Tôi nhớ lại hồi nhỏ, mẹ thường để những chiếc chìa khóa quan trọng vào một chiếc hộp sắt, giấu trong góc tủ bếp. Tôi đi vào bếp, bê một chiếc ghế, trèo lên tìm ki/ếm ở tủ treo tường. Thấy rồi. Một chiếc hộp bánh quy bằng sắt đã gỉ sét.

Tôi lấy xuống, mở ra. Bên trong có vài chiếc chìa khóa dự phòng, vài tấm tem phiếu (đã quá hạn từ lâu), và cả vài chiếc răng sữa tôi rụng hồi nhỏ được gói trong khăn giấy.

Tôi thử chìa khóa, chiếc thứ ba đã mở được ngăn kéo bàn làm việc. Trong ngăn kéo không có nhiều thứ. Một cuốn sổ tiết kiệm (số dư bằng không), vài cuốn album ảnh, và một xấp tài liệu.

Trên cùng là một bản hợp đồng v/ay n/ợ. Người v/ay là Chu Chí Viễn, người cho v/ay là Lâm Kiến Quốc, số tiền mười vạn, ngày tháng là một năm trước khi t/ai n/ạn xảy ra. Có chữ ký, có dấu vân tay, và cả người bảo lãnh—người bảo lãnh lại chính là Thẩm Mỹ Lan.

Trang cuối của hợp đồng, Chu Chí Viễn ký vào bản cam kết: “Nếu đến hạn không trả được n/ợ, tự nguyện lấy cửa hàng trên phố Đông Phong làm tài sản thế chấp.”

Cửa hàng trên phố Đông Phong? Chu Chí Viễn lấy đâu ra cửa hàng?

Danh sách chương

Có thể bạn quan tâm

Bình luận

Đọc tiếp

Bảng xếp hạng

Mới cập nhật

Xem thêm