Ta nghe được tin tức này khi đang ở nhà. Cha ta từ huyện thành trở về, vừa vào cửa đã nói:
"Con gái, Tụ Bảo Lâu thật sự sập tiệm rồi! Tiền Đức Vượng bị bắt rồi! Lời con nói hôm qua là 'trong vòng ba ngày tất sẽ đóng cửa', đây mới chỉ là ngày thứ hai thôi!"
Ta ngồi trên bậc cửa, trầm mặc hồi lâu.
Đáng lẽ ta phải vui mừng mới đúng. Kẻ chủ quán đen tối đã bị trừng trị, bách tính không còn phải ăn dầu cống nữa, đây là chuyện tốt.
Nhưng lòng ta lại thấy vô cùng phức tạp.
Một cái lưỡi, một câu nói, khiến cho một tửu lâu kinh doanh suốt mười năm chỉ trong hai ngày đã tan thành mây khói.
Tiền Đức Vượng dù có x/ấu xa đến đâu, thì dưới trướng hắn cũng có hàng chục đầu bếp, tiểu nhị, người chạy bàn, những người này chỉ sau một đêm đã mất đi chén cơm.
Giọng nói của Táo Quân đột nhiên vang lên trong đầu ta, như thể đã nhìn thấu tâm tư của ta:
"Mềm lòng rồi sao?"
Ta không nói gì.
"Tiền Đức Vượng không sập tiệm, thì sẽ có thêm nhiều người bị đ/au bụng. Số bạc hắn tiết kiệm được, đều là thứ cạo ra từ sức khỏe của bách tính. Ngươi đồng cảm với tiểu nhị của hắn, vậy ai sẽ đồng cảm với những người già và trẻ nhỏ bị trúng đ/ộc kia?"
Ta cắn môi, cuối cùng nói một câu: "Con biết rồi."
Táo Quân hừ một tiếng, giọng nói dần biến mất: "Biết là tốt. Cái lưỡi này của ngươi không phải dùng để mềm lòng, mà là dùng để phân xử công đạo."
Ta đứng dậy, phủi bụi trên váy.
Ta không mềm lòng. Ta chỉ là lần đầu tiên cảm nhận rõ ràng được cái lưỡi của mình nặng đến nhường nào.
Một câu nói, chính là một thế giới.
Từ ngày hôm đó, danh hiệu "Tiểu Thực Thần" hoàn toàn lan xa.
Người trong huyện thành đều biết, nha đầu nhà họ Cố có một cái miệng vàng, nói ai tốt là người đó tốt, nói ai sập là người đó sập.
Có người kính sợ, có người nịnh bợ, có người sợ hãi.
Ta đều chẳng để tâm.
Ta chỉ tiếp tục ăn, tiếp tục nói.
Cho đến khi ta gặp được một vị lão nhân thay đổi cả cuộc đời mình trong một con hẻm nhỏ hẻo lánh.
Chuyện của Tụ Bảo Lâu đã trôi qua nửa tháng.
Cuộc sống của ta không có thay đổi gì lớn, ngày ngày vẫn ăn uống như thường, thỉnh thoảng lại ghé sạp hoành thánh của thím Vương giúp một tay, cuộc sống trôi qua bình lặng mà vững chãi.
Nhưng trong lòng ta vẫn luôn có một nút thắt.
Lưỡi Vàng quá linh nghiệm, linh nghiệm đến mức khiến ta sợ hãi.
Ta sợ một ngày nào đó mình nói sai, h/ủy ho/ại chén cơm của một người tốt.
Ta cũng sợ một ngày nào đó mình nhìn nhầm, để một kẻ chủ quán đen tối thoát tội.
Mấy ngày nay Táo Quân không xuất hiện, lòng ta không yên, liền nghĩ muốn đi dạo nhiều hơn, nếm thử nhiều hơn, để hiểu rõ tính nết của cái lưỡi này rồi mới tính tiếp.
Chiều hôm đó, ta một mình tản bộ đến một con hẻm cũ phía đông huyện thành.
Gọi là hẻm, nhưng thực ra sắp thành đống đổ nát rồi.
Hai bên là tường gạch xanh cũ kỹ, trên đỉnh tường mọc đầy cỏ đuôi chó, mặt đường lồi lõm, mấy hôm trước mưa, nước đọng vẫn chưa khô.
Sâu trong hẻm có vài gian nhà ngói thấp tè, cánh cửa lốm đốm, trông như đã lâu không có người ở.
Ta vốn định quay người trở về, nhưng mũi đột nhiên ngửi thấy một mùi hương.
Không phải mùi hương nồng đậm, mà là mùi thanh đạm, sạch sẽ, giống như mùi hương của tia nắng đầu tiên trong ngày chiếu trên cánh đồng lúa mì.
Lưỡi Vàng trong miệng khẽ động đậy.
Ta men theo mùi hương đi về phía trước, cuối hẻm, dưới một gốc cây hòe già, bày một chiếc bàn vuông đã bong tróc sơn, hai chiếc ghế dài, một cái lò, một cái nồi.
Một lão nhân ngồi sau lò, đang nhào bột.
Lão nhân khoảng hơn bảy mươi tuổi, tóc bạc trắng, nhưng lưng lại thẳng tắp.
Lão mặc một chiếc áo vải xanh đã giặt đến bạc màu, tay áo xắn đến khuỷu tay, lộ ra cánh tay g/ầy guộc nhưng đầy sức mạnh.
Động tác nhào bột không nhanh, nhưng mỗi động tác đều vô cùng chính x/ác: đẩy, ép, gấp, đ/ập.
Khối bột trong tay lão như có linh h/ồn, phát ra tiếng "bộp bộp", nhịp điệu ổn định như tiếng tim đ/ập.
Trước mặt lão nhân treo một tấm vải, trên đó dùng bút lông viết hai chữ: "Long Ký."
Phía dưới còn có một dòng chữ nhỏ: "Mì Dương Xuân, ba văn."
Ta sững sờ.
Mì Dương Xuân ba văn một bát? Hoành thánh của thím Vương đã là năm văn rồi.
Ta bước tới, ngồi xuống ghế dài, tò mò nhìn lão nhân.
Lão nhân ngay cả đầu cũng không ngẩng lên, tiếp tục nhào bột, giọng không mặn không nhạt: "Ăn mì?"
"Vâng, một bát mì Dương Xuân."
Lão nhân không nói gì nữa, cán khối bột đã nhào xong, gấp lại, c/ắt mì.
Con d/ao rơi xuống thớt, "cạch cạch cạch", vừa nhanh vừa đều, những sợi mì c/ắt ra mảnh như sợi tóc, từng sợi rõ ràng, như thể đã được đo đạc kỹ lưỡng.
Ta nhìn đến ngây người. Tuy ta không biết nấu ăn, nhưng ta thấy nhiều rồi, đ/ao công này tuyệt đối không phải thứ mà người b/án hàng rong bình thường có thể có được.
Mì cho vào nồi, nước sôi cuồn cuộn.
Lão nhân cầm một chiếc bát gốm thô, từ chiếc hũ bên cạnh múc một thìa nước tương, một thìa mỡ heo, lại nhúm một ít muối, rồi nhấc chiếc ấm đồng lên, rót nửa bát nước sôi vào bát.
Ta chú ý đến chiếc ấm đồng đó. Thân ấm sáng loáng, không một chút cặn bẩn, có thể thấy chủ nhân ngày nào cũng lau chùi.
Mì chín rồi, lão nhân dùng đũa dài gắp vào bát, cuối cùng rắc thêm một ít hành hoa.
Toàn bộ quá trình không quá ba phút, đơn giản đến mức như chẳng làm gì cả.
Một bát mì Dương Xuân được bưng đến trước mặt ta.
Nước dùng có màu hổ phách, trong vắt tận đáy.
Sợi mì nằm trong nước dùng, như những dải lụa làm từ bạch ngọc. Vài hạt hành hoa nổi phía trên, xanh mướt.
Không có đồ ăn kèm, không có rau, không có bất kỳ thứ gì hoa mỹ.
Ta cúi đầu, dùng đũa gắp vài sợi mì, đưa vào miệng.
Lưỡi Vàng sáng lên.