Nhưng tôi biết, tôi vẫn sẽ trở về.
Những ngày ở Bắc Kinh bận rộn hơn tôi tưởng. Ban ngày lên lớp, tối lại vùi đầu trong studio, cuối tuần đi xem đủ loại triển lãm.
Trong lớp có người vẽ tranh, có người làm điêu khắc, có người làm nghệ thuật sắp đặt, đủ mọi thể loại. Khi họ nhìn thấy các tác phẩm chạm khắc đ/á của tôi, ai nấy đều kinh ngạc.
“Đây là đ/á thật sao? Tôi cứ tưởng là ảnh chụp!”
“Cậu dùng tay khắc thật à? Không phải dùng máy sao?”
“Người anh em, tay nghề này của cậu mà không đi tu bổ cổ vật ở Tử Cấm Thành thì thật là phí phạm!”
Tôi cũng nhìn thấy tác phẩm của họ. Tranh sơn dầu, thủy mặc, vật liệu tổng hợp, video, nghệ thuật trình diễn. Có những thứ tôi hiểu, có những thứ tôi không hiểu. Nhưng dù hiểu hay không, tôi đều thấy chúng thật thú vị.
Hóa ra nghệ thuật còn có thể như vậy. Hóa ra đ/á không phải là ngôn ngữ duy nhất.
Một ngày nọ, thầy giáo dẫn chúng tôi đến 798 để xem một triển lãm điêu khắc. Trong sảnh có một tác phẩm, là một con chim được hàn từ sắt thép phế liệu, đôi cánh dang rộng như muốn bay lên. Tôi đứng trước tác phẩm đó rất lâu.
Tác giả là một người đàn ông ngoài năm mươi, đứng bên cạnh thấy tôi nhìn lâu như vậy liền chủ động bắt chuyện: “Cậu thích à?”
“Dạ thích.”
“Cậu học chuyên ngành gì?”
“Chạm khắc đ/á.”
Ông ấy mắt sáng lên: “Chạm khắc đ/á? Chạm khắc đ/á truyền thống ư?”
“Dạ đúng.”
“Vậy cậu thấy tác phẩm này của tôi thế nào?”
Tôi suy nghĩ một chút: “Nó làm tôi nhớ đến một chuyện.”
“Chuyện gì?”
“Hồi nhỏ tôi từng thấy một con chim, cánh nó bị g/ãy nhưng nó cứ đ/ập cánh mãi, muốn bay lên. Sau đó nó thật sự bay được, bay khoảng mười mấy mét rồi rơi xuống và ch*t.”
Người đàn ông im lặng.
“Nhưng con chim này của ông,” tôi nhìn con chim bằng thép, “cánh nó không g/ãy, nó có thể bay rất xa.”
Người đó cười, chìa tay ra: “Tôi là Trần Mặc.”
“Thẩm Nghiên.”
Sau này Trần Mặc trở thành người bạn thân nhất của tôi ở Bắc Kinh. Anh ấy là người Đông Bắc, nói năng oang oang, uống rư/ợu bằng bát lớn, tính cách cũng thô kệch và trực diện như tác phẩm của anh ấy vậy. Anh ấy dẫn tôi đi ăn vịt quay, uống nước đậu, dạo Tử Cấm Thành, leo Vạn Lý Trường Thành. Tôi mời anh ấy đến căn phòng thuê của mình, cho anh ấy xem mấy món đồ nhỏ tôi mang theo.
Anh ấy cầm lấy một món, xem đi xem lại rồi buông một câu: “Thẩm Nghiên, đôi tay của cậu là do ông trời ban lộc.”
“Nhiều người từng nói thế rồi.”
“Nhưng cậu có biết tại sao ông trời lại ban cho cậu bát cơm này không?”
“Tại sao ạ?”
“Vì ông ấy biết cậu giữ được nó.”
Tôi sững người một chút rồi bật cười. Cách nói này thật mới mẻ.
Nửa năm trôi qua rất nhanh. Khi tốt nghiệp, tôi làm một tác phẩm để lại ở Học viện Mỹ thuật. Đó là một cây cầu nhỏ, trên cầu có một thiếu niên cầm d/ao khắc, dưới cầu nước chảy róc rá/ch. Tôi đặt tên tác phẩm là “Độ” (Bến đò).
Thầy xem xong, khen hay. Trần Mặc xem xong, bảo đỉnh. Bản thân tôi xem xong, thấy cũng được. Không phải xuất sắc nhất, nhưng đã là tất cả những gì tôi có thể làm ra.
Khi trở về làng, trời đã cuối thu. Con đường trước cửa mỏ đ/á quả nhiên đã được sửa xong, mặt đường nhựa phẳng phiu sạch sẽ. Triệu Đại Ngưu lái chiếc xe tải nhỏ đến đón tôi, trên xe còn giăng băng rôn: “Chào mừng Đại sư Thẩm Nghiên học thành trở về!”
Tôi suýt chút nữa thì bật cười thành tiếng.
“Ai bảo cậu treo cái này đấy?”
“Tôi tự treo đấy!” Triệu Đại Ngưu đắc ý, “Anh Nghiên, anh bây giờ là người đã từng tu nghiệp ở Học viện Mỹ thuật Trung ương rồi, gọi một tiếng đại sư cũng đâu có quá đáng?”
“Không quá đáng, nhưng cậu gọi thì tôi cũng không tăng lương cho cậu đâu.”
Mặt Triệu Đại Ngưu sụp xuống ngay lập tức.
Trần Tiểu Kiều đã cao lớn hơn nhiều, vết chai trên tay cũng dày hơn hẳn. Cậu bé bưng một khối đ/á đưa tôi xem, trên đó khắc cây tùng mà tôi đã dạy. Nó đẹp hơn hẳn nửa năm trước. Dù còn non nớt nhưng đã bắt đầu thấy được phong cách riêng.
“Sư phụ, thầy xem có được không ạ?”
Tôi cầm khối đ/á trên tay, nhìn hồi lâu.
“Tiểu Kiều.”
“Dạ?”
“Con xuất sư rồi.”
Cậu bé sững người, hốc mắt dần đỏ hoe.
“Sư phụ, con vẫn còn kém xa...”
“Tay nghề có thể luyện dần, nhưng tâm của con đã tới rồi.” Tôi trả lại khối đ/á cho cậu bé, “Từ hôm nay, con không cần phải đi khuân đ/á nữa, có thể tự nhận việc rồi.”
Cậu bé ôm khối đ/á, nước mắt lã chã rơi xuống.
Triệu Đại Ngưu đứng bên cạnh nhìn thấy mà mũi cũng cay cay, nhưng miệng vẫn không tha: “Khóc cái gì mà khóc! Nam tử hán đại trượng phu, xuất sư là phải vui chứ!”
“Anh Ngưu, anh không phải cũng đang lau mắt đấy sao?”
“Đó là tại gió thổi bụi vào mắt tôi!”
Tôi cười lắc đầu, bước vào trong mỏ đ/á.