Ông nheo mắt nhìn quanh một vòng, thấy Chiếm Quân đi vào góc, lôi ra một con cừu.
Cừu cái, g/ầy, lông màu tối, cái bụng rõ ràng trĩu xuống. Nó không tình nguyện theo chân Chiếm Quân bước ra, móng guốc trượt trên nền đất đóng băng.
"Chỉ con này thôi sao?" Vạn Sơn hỏi.
"Vâng. Đang mang th/ai, chắc là đầu xuân sẽ đẻ."
Vạn Sơn tiến lại gần nhìn kỹ. Lông cừu còn khá mượt, răng cỏ cũng ổn -- không phải cừu già. Bụng trĩu thấp, đúng là đang mang th/ai. Ông đưa tay sờ lưng cừu, có thể sờ thấy xươ/ng sườn nhưng không đến nỗi quá g/ầy. Được.
"Đi thôi," ông nói.
Chiếm Quân kéo dây cương -- dây cương bện bằng dây gai, một đầu buộc vào sừng cừu. Con cừu không mấy nghe lời, đi hai bước lại dừng, cúi đầu gặm cỏ khô ven đường. Tú Liên ở bên cạnh lùa, vỗ nhẹ vào mông nó, nó mới chịu nhích thêm hai bước.
Về đến nhà, cừu được dắt vào phòng phía Tây. Chiếm Quân đã dọn dẹp từ sớm -- dưới đất trải một lớp cỏ khô, góc tường đặt một chiếc máng gỗ cũ, vốn là đồ cho gà ăn, đã được cọ rửa sạch sẽ làm máng ăn. Anh còn bới từ đống củi ra mấy bó cỏ linh lăng khô, chất ở góc tường.
Cừu vào chuồng, ngửi ngửi cỏ khô, lại ngửi ngửi máng gỗ, rồi xoay người, quay mông ra cửa, nằm xuống.
Vạn Sơn đứng ở cửa nhìn một lúc lâu. Ông không vào, cứ đứng đó như thể đang x/ác nhận điều gì đó với con cừu.
"Được rồi," ông nói, "Đóng cửa đi."
Chiếm Quân đóng cửa, cài then từ bên ngoài. Chìa khóa vẫn nằm trong túi anh, chưa lấy ra.
Trời tối. Bữa tối vẫn là bánh bao và cháo, nhưng Tú Liên xào thêm một đĩa khoai tây thái sợi -- coi như là cải thiện. Khoai tây lưu trong hầm từ mùa thu, đã mọc vài cái mầm, bà bóc bỏ mắt mầm, thái sợi, dùng dầu lanh xào lửa lớn, thêm chút bột ớt khô, mùi thơm nồng lên tận mũi.
Ăn cơm xong, Vạn Sơn bắt đầu đ/ốt tranh Táo quân. Ông cho bức tranh đã cuộn vào bếp lò, ngọn lửa "phụt" một cái bùng lên, bức tranh cong lại, đen đi, hóa thành tro. Ông nhìn chằm chằm vào ngọn lửa một lát, rồi thêm một nắm củi vào bếp.
"Lên trời nói điều hay, dưới trần giữ bình an," ông nói.
Tú Liên ở bên cạnh dọn dẹp bát đũa, không đáp lời.
Đêm đó, cả nhà đi ngủ sớm. Vạn Sơn nằm trên giường, nghe tiếng gió bên ngoài. Gió đã dịu hơn một chút nhưng vẫn thổi. Trong phòng phía Tây bên cạnh, con cừu thỉnh thoảng cử động, cỏ khô sột soạt. Ông nhắm mắt lại, trong đầu toàn là hình ảnh những con cừu -- mười ba con của nhà mình, những con đã nộp đi năm 58, và con mới đến trong chuồng.
Quá nửa đêm, Tú Liên lay ông tỉnh dậy.
"Mẹ không ổn rồi," bà nói.
Vạn Sơn trở mình ngồi dậy. Trên giường phòng trong, mẹ Tú Liên cuộn tròn thành một cục, thở rất khó khăn, trong cổ họng phát ra tiếng "khò khè" như tiếng bễ lò rèn bị rá/ch. Chiếm Quân cũng đã dậy, đứng bên cạnh giường, luống cuống không biết làm gì.
"Đi gọi bác sĩ chân đất đi," Vạn Sơn nói.
Chiếm Quân đáp lời, khoác áo bông chạy ra ngoài. Đêm hôm khuya khoắt, gió lại thổi mạnh hơn, anh dẫm lên tuyết chạy đến trạm y tế thôn, giày tất nhanh chóng ướt sũng.
Bác sĩ đến xem xét rồi lắc đầu: "Tuổi cao rồi, không qua nổi mùa đông này đâu." Ông kê hai thang th/uốc, nói cứ uống trước, cầm cự được ngày nào hay ngày đó.
Cả nhà quay lại giường, không ai ngủ được. Tiếng thở dốc của mẹ Tú Liên trong bóng tối từng đợt từng đợt, nghe đến thắt lòng.
Trời gần sáng thì Trần Bắc chào đời.
Tú Liên đ/au suốt một đêm, cắn ch/ặt góc chăn không kêu tiếng nào. Vạn Sơn nấu nước ở phòng ngoài, Chiếm Quân đi lại trong sân. Tuyết đã rơi, lấm tấm, đ/ập vào mặt lạnh buốt.
Tiếng khóc chào đời đầu tiên vang lên khi trời vừa hửng sáng. Là một bé trai.
Bác sĩ c/ắt dây rốn, quấn lại rồi đưa cho Tú Liên. Đứa trẻ đỏ hỏn, nhăn nheo, mắt còn chưa mở được. Nhưng giọng rất trong, tiếng khóc to, như muốn hét lên tất cả nỗi uất ức trong lòng.
Chiếm Quân đứng ở cửa, tay r/un r/ẩy. Anh móc từ trong túi ra tờ giấy vỏ bao th/uốc lá -- vỏ bao th/uốc lá Linh Dương, mặt sau là những dòng chữ nguệch ngoạc: "Nếu là con trai, đặt tên là Bắc. Phía Bắc trường thành, hãy nhớ lấy cội nguồn."
Anh gấp lại, nhét vào túi.
Vạn Sơn từ phòng ngoài đi vào, liếc nhìn đứa bé rồi không nói gì. Ông quay người ra bếp, thêm nước vào nồi, nhóm lửa. Nước sôi, ông bốc một nắm kê rắc vào. Nấu cháo.
Ngoài cửa sổ, tuyết đã tạnh. Phía trường thành, chân trời ánh lên một dải trắng bạc.
Trong phòng phía Tây, con cừu cựa mình. Nó đạp chân trong giấc mơ, như thể đang mơ một giấc mơ gì đó.
Năm 1993, mùa xuân. Trần Bắc tám tuổi.
Ngày anh lần đầu tiên cầm chiếc roj chăn cừu là sau tiết Thanh Minh. Gió vẫn còn sắc, nhưng mặt trời đã có thể làm đổ một lớp mồ hôi mỏng trên lưng người. Vạn Sơn mò từ dưới gầm tủ giường ra một chiếc roj -- không phải mới làm, mà là đồ cũ, đầu roj bằng da bò, cán bằng gỗ du, đuôi cán quấn dải vải đỏ, dải vải đã bạc màu, bị mồ hôi tay thấm đen.
"Cầm lấy," Vạn Sơn nói.
Trần Bắc nhận lấy. Nặng, nặng hơn anh tưởng tượng. Cán roj được mài nhẵn, cầm trong tay rất vừa vặn, như thể đã ở đó từ lâu lắm rồi. Anh vung thử một cái -- không biết vung, đầu roj quất xuống đất một cái, "bạch" một tiếng, nhẹ hều.
"Không phải vung như thế," Vạn Sơn nói.