Thằng bé mười tháng tuổi, vừa mới học được cách ngồi vững, chưa biết nói, nhưng đôi mắt cứ dõi theo con khỉ trên màn hình mà xoay chuyển. Chiếm Quân cúi đầu nhìn con, phát hiện miệng con trai hơi hé ra, nước dãi chảy cả xuống.
"Thích à?" anh khẽ hỏi.
Đứa bé "a a" hai tiếng, bàn tay nhỏ bé vươn về phía trước, muốn chộp lấy con khỉ biết cử động kia.
Chiếm Quân cười. Anh chợt cảm thấy bốn trăm tệ này tiêu rất đáng -- không phải vì Mã Tam Quý tiêu đáng, mà là việc anh đưa con trai đi xem tivi này rất đáng. Đứa trẻ đã nhìn thấy thứ mới mẻ, thứ này sẽ lưu lại trong tâm trí nó, hòa trộn vào cuộc đời sau này của nó.
Nhưng chương trình kết thúc rất nhanh -- chín giờ rưỡi, sau bản tin thời sự là hết, trên màn hình xuất hiện một hình tròn, giữa viết chữ "Tạm biệt". Người trong nhà vẫn còn thòm thèm, nán lại không muốn đi. Mã Tam Quý bắt đầu mời th/uốc -- th/uốc "Linh Dương", một bao x/é ra, mỗi người một điếu.
"Tuần sau lại đến nhé!" ông nói.
Chiếm Quân không đáp cũng không từ chối, bế con đi ra ngoài. Gió đêm thổi qua, lạnh buốt. Trần Bắc trong lòng anh ngáp một cái, mí mắt bắt đầu díp lại.
"Buồn ngủ à?" Chiếm Quân nói.
Đứa trẻ không trả lời, đầu nghiêng vào ngựk anh rồi ngủ thiếp đi.
Tháng Bảy, tình trạng hạn hán bắt đầu lộ rõ.
Ban đầu không rõ rệt lắm -- lúa mì xuân trên ruộng vẫn ổn, lá vẫn xanh, bông cũng đã trổ. Nhưng trên đồng cỏ thì không ổn chút nào. Mọi năm tầm này, cỏ dại đã cao đến đầu gối, cừu thả ra là ăn no nê. Năm nay cỏ thấp, thưa thớt, giẫm lên không để lại dấu chân. Vạn Sơn mỗi ngày đều ra ngoài thôn dạo một vòng, ngồi xổm xuống xem độ cao của cỏ, ngắt một cọng cỏ nhai thử -- không có nước, khô khốc.
"Hạn rồi," ông về nói với Chiếm Quân.
"Có cầm cự được đến khi mưa không ạ?"
"Khó nói lắm. Thêm một tháng nữa không mưa, cỏ coi như bỏ."
Chiếm Quân h/oảng s/ợ. Không phải anh chưa từng trải qua hạn hán -- hồi nhỏ từng có, nhưng lúc đó anh còn bé, không hiểu chuyện, chỉ nhớ người lớn mặt mày ủ rũ, lương thực không đủ ăn. Giờ đến lượt mình làm chủ gia đình, cừu là anh nuôi, ruộng là anh trồng, hạn hán chính là chuyện của anh.
Anh bắt đầu mỗi ngày đi gánh nước ở suối -- không phải cho người uống, mà cho cừu uống. Suối cách thôn ba dặm, nước vốn đã ít, giờ càng ít hơn, một thùng phải đợi nửa ngày mới đầy. Anh gánh hai thùng nước, trước sau cân bằng, đò/n gánh đ/è nặng trên vai, kẽo kẹt bước về. Một chuyến hai thùng, đủ cho cừu uống một bữa. Một ngày chạy ba chuyến, vai bị cọ rá/ch da, dán miếng băng dính rồi lại gánh tiếp.
Tú Liên không nỡ nhìn nữa: "Đừng gánh nữa, cừu không ch*t khát được đâu."
"Khát g/ầy đi sẽ ảnh hưởng đến việc đẻ con."
"Nhưng anh cũng không thể làm mình kiệt sức được."
Chiếm Quân không nói gì, hôm sau vẫn đi.
Vạn Sơn nhìn thấy tất cả, không ngăn cản. Thời trẻ ông cũng như vậy -- khi trời hạn thì gánh nước tưới ruộng, từng gánh một, từ lúc mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn. Sau đó ông nhận ra chẳng có ích gì -- anh tưới được ba phần ruộng, không tưới được cả đồng cỏ. Nhưng con người là thế, biết rõ vô ích vẫn phải làm gì đó, nếu không trong lòng thấy trống trải bất an.
Ông đem kinh nghiệm của mình nói cho Chiếm Quân: "Đừng chỉ gánh nước. Hãy lùa cừu sang phía trường thành -- bên đó địa thế thấp, vẫn tìm được chút cỏ xanh."
"Bên đó đi được ạ?"
"Sao lại không? Có ai kẻ vạch đâu. Cừu ăn cỏ, cỏ đâu phân biệt của ai với ai."
Chiếm Quân làm theo. Sáng sớm hôm sau, anh lùa Hoa Hoa và cừu mẹ ra khỏi chuồng, đi về hướng trường thành. Lũ cừu cũng nghe lời, đi theo anh, không chạy lung tung. Đến cạnh trường thành, anh trèo qua -- tường không cao, đổ nát nhiều chỗ, giẫm lên đ/á vụn là trèo được. Bên kia tường quả nhiên cỏ tốt hơn một chút, tuy không gọi là xum xuê nhưng vẫn hơn hẳn bên phía thôn.
Cừu cúi đầu ăn ngon lành. Chiếm Quân ngồi trên bờ đất trường thành nhìn chúng. Gió từ phía Nội Mông thổi tới, mang theo cát, nhưng đã nhỏ hơn mấy hôm trước. Anh ngước nhìn trời -- trời xanh đến quá mức, không một gợn mây. Kiểu trời này mới đ/áng s/ợ nhất -- xanh càng sạch, khả năng có mưa càng thấp.
Anh chợt nhớ tới câu ông nội từng nói hồi nhỏ: "Trời hạn không quá mùng sáu tháng sáu, sáu sáu không mưa hạn đến thu". Hôm nay là mùng ba tháng Bảy, đã quá mùng sáu tháng sáu gần một tháng rồi.
Tháng Tám, tình trạng hạn hán nghiêm trọng hơn.
Lúa mì giảm sản lượng đã là chuyện chắc chắn -- bông lép, hạt không đầy, năng suất ước chừng không tới hai trăm cân một mẫu. Người trong thôn bắt đầu hoảng lo/ạn. Có người lên xã phản ánh, xã bảo "chờ chỉ thị của huyện"; có người đến đền Long Vương thắp hương dập đầu cầu mưa; có người bắt đầu b/án cừu -- tranh thủ lúc còn sống b/án gấp, để muộn hơn nó g/ầy đi lại càng mất giá.
Chiếm Quân không b/án. Anh cắn răng cầm cự, mỗi ngày gánh nước, chăn cừu, cho ăn, mệt đến mức người g/ầy rộc đi. Tú Liên không nhìn nổi nữa, lén đi tìm Mã Tam Quý v/ay năm mươi tệ -- không phải v/ay tiền, mà là v/ay phiếu lương thực. Mã Tam Quý đưa, không cần giấy n/ợ, nói: "Trả cái gì mà trả, năm nay mất mùa ai cũng khó khăn."
Tú Liên dùng phiếu đổi được ba mươi cân bột mì trắng, giấu trong tủ đầu giường. Chiếm Quân biết chuyện, cãi nhau với bà một trận.
"Ai cho bà v/ay!"
"Không v/ay thì ăn gì? Chum bột đã thấy đáy rồi!"