Mỗi buổi chiều muộn, anh lại đi nhặt phân bò -- sau vụ thu hoạch, phân bò trên đồng rất nhiều, khô khốc, giẫm lên nghe tiếng lạo xạo. Nhặt một sọt mang về là đủ đ/ốt trong hai tối. Trần Bắc đi theo, thằng bé không sợ bẩn, ngồi xổm trên đất nhặt nhạnh, đôi bàn tay nhỏ bé lạnh đến đỏ ửng cũng chẳng nề hà, nhặt xong lại ném vào sọt. Chiếm Quân nhìn thấy, lòng mềm lại.
"Có lạnh không?" Anh hỏi.
Đứa trẻ lắc đầu, tiếp tục nhặt.
Tháng Mười một, giá lông cừu đã được x/ác nhận.
Không phải tin đồn, mà là sự thật. Cháu trai của Mã Tam Quý từ huyện về, mang theo tin tức chính x/ác -- giá thu m/ua của nhà máy lông cừu đã giảm xuống mười tám tệ, hơn nữa họ thu m/ua rất ít, lại còn kén chọn gắt gao. Lông phải thuần, không được lẫn lông khác, không được tạp chất, nếu không sẽ từ chối thu m/ua. Năm ngoái hai mươi tám tệ, năm nay mười tám tệ, giảm mất mười tệ tròn.
Cả thôn như n/ổ tung.
"Mười tệ! Một con cừu mất mười tệ!"
"Biết thế năm ngoái b/án quách đi cho rồi!"
"Giờ b/án còn kịp không?"
"Không kịp nữa rồi! Người ta không m/ua nữa!"
Tiếng hối h/ận vang lên khắp nơi. Có người thức đêm mang lông cừu đã tích trữ ra b/án tháo, mười lăm tệ cũng b/án. Có người dứt khoát không b/án nữa -- "Mười tám tệ không b/án, chờ nó tăng giá lại rồi tính". Nhưng ai cũng biết, khả năng tăng giá trở lại là rất thấp.
Chiếm Quân không có lông cừu để b/án -- đợt trước b/án hết rồi, lông mới phải đợi đến mùa xuân năm sau. Nhưng anh vẫn hoảng. Mười tám tệ, nghĩa là thu nhập năm sau của anh bị c/ắt giảm một phần ba. Bốn con cừu, mỗi con một cân rưỡi lông, tính ra sáu cân, mười tám tệ một cân, được một trăm lẻ tám tệ. Năm ngoái cũng bốn con cừu đó có thể b/án được hơn một trăm sáu mươi tệ. Tự nhiên mất đi hơn năm mươi tệ.
Anh mở sổ ghi chép, viết vào trang mới nhất:
"Mùng bảy tháng Mười một, giá lông cừu giảm xuống mười tám tệ. Thu nhập dự kiến năm sau giảm năm mươi tệ."
Viết xong, anh nhìn chằm chằm vào mấy chữ đó hồi lâu. Rồi khép sổ lại, nhét vào tủ đầu giường.
Vạn Sơn không nói gì. Ông không bao giờ bình luận về việc giá cả tăng hay giảm -- những thứ đó ông không hiểu, cũng không muốn hiểu. Ông chỉ biết cừu phải sống, cỏ phải có để ăn, mùa đông phải vượt qua. Còn việc đáng bao nhiêu tiền, đó là chuyện của Chiếm Quân.
Ngày Tiểu tuyết, nhà làm món "Đông tàng" (dự trữ mùa đông).
Phong tục Diêm Trì -- Tiểu tuyết muối rau, Đại tuyết muối th!t. Tú Liên đã chuẩn bị từ mấy ngày trước -- lấy cải thảo thu hoạch mùa thu từ dưới hầm lên, bỏ lá già, bổ đôi, phơi nắng một ngày cho héo, cứ một lớp cải thảo một lớp muối, xếp vào vại lớn, đ/è đ/á lên. Nửa tháng sau, cải thảo ra nước, lên men, biến thành dưa chua.
Trần Bắc ngồi xổm bên vại dưa xem. Thằng bé hơn ba tuổi rồi, nói được câu ngắn hoàn chỉnh -- "Mẹ đang làm gì thế", "Tại sao cải thảo lại cho muối", "Có ngon không". Tú Liên vừa xếp rau vừa trả lời, kiên nhẫn hết mức.
"Muối lại để mùa đông ăn."
"Tại sao phải muối?"
"Rau tươi không để được lâu. Muối rồi mới để được cả mùa đông."
Đứa trẻ hiểu lơ mơ rồi gật đầu. Nó vươn tay định sờ vào cải thảo trong vại, bị Tú Liên vỗ nhẹ vào mu bàn tay.
"Đừng sờ. Bẩn."
Nó rụt tay lại, bĩu môi nhưng không khóc.
Vạn Sơn ngồi bên cạnh nhìn. Ông không giúp -- việc này ông không biết, cũng không nhúng tay. Nhưng ông nhìn động tác xếp rau của Tú Liên, lại nhớ đến mẹ mình -- mấy chục năm trước, cũng vào ngày này, mẹ ông muối rau ngoài sân, ông ngồi bên cạnh xem, khung cảnh y hệt. Thời gian như một vòng tròn, rồi lại quay về.
Đầu tháng Mười hai, sự sa mạc hóa của đồng cỏ đã hiện rõ trước mắt.
Không chỉ là đá/nh giá của riêng Vạn Sơn -- cả thôn ai cũng thấy. Đồng cỏ dọc theo Trường Thành, trước kia còn thấy lốm đốm màu xanh, nay đã vàng úa hoàn toàn, đất đai lộ ra, gió thổi qua là bụi bay m/ù mịt. Một số nhà đồng cỏ đã bắt đầu xuất hiện cát -- những hạt cát nhỏ li ti phủ trên bề mặt đất, giẫm lên mềm nhũn, không giống đất nữa.
Người từ xã xuống, chụp ảnh, bảo phải "xử lý". Xử lý thế nào? Trồng cây chanh cừ (cây bụi chịu hạn), trồng cỏ cát, cỏ đậu cát -- đều là những loài cây chịu hạn, có thể cố định cát. Nhưng hạt giống cần tiền, nhân công cần tiền, trong thôn không ai muốn bỏ ra.
"Đất nhà ai người đó trồng," người xã nói.
Mã Tam Quý đi đầu -- đồng cỏ nhà ông ta sa mạc hóa nghiêm trọng nhất, không xử lý thì sang năm đến cỏ cũng không còn. Ông ta m/ua hạt giống chanh cừ, thuê người gieo, tốn hơn tám mươi tệ. Người trong thôn nhìn theo, có người học tập, có người đứng ngoài quan sát.
Chiếm Quân quan sát. Đồng cỏ nhà anh vẫn ổn -- hai mươi tám mẫu, bốn con cừu, không quá tải, cỏ tuy thưa nhưng chưa sa mạc hóa. Anh thấy mình không cần xử lý, tiết kiệm được khoản tiền này.
Vạn Sơn không bày tỏ thái độ. Nhưng ngày nào ông cũng đi xem -- không phải xem đồng nhà mình, mà xem đồng nhà Mã Tam Quý. Hạt giống chanh cừ đã gieo xuống, những hạt giống đen sì nằm trên đất vàng, không biết có sống nổi không. Ông ngồi xổm xuống, nhặt một hạt giống, vân vê trên đầu ngón tay.
"Có sống được không?" Chiếm Quân hỏi.
"Tùy trời."
"Trời không thuận thì sao?"
"Thì coi như bỏ."
Hai cha con không nói thêm gì nữa. Nhưng Chiếm Quân ghi nhớ trong lòng -- nhỡ đâu đồng cỏ nhà mình cũng sa mạc hóa, thì khoản tiền này không tiết kiệm được.
Tháng Chạp, Hoa Hoa được c/ắt lông lần đầu.
Không phải chải lông nhung -- lông nhung phải đợi mùa xuân, còn lông thô là c/ắt vào mùa thu.