Biết là một chuyện, nhưng khi thực sự phải đối mặt, nỗi ê chề đ/au đớn đến x/é lòng khiến người ta biết làm sao cho đành, nàng vẫn bị tổn thương sâu sắc, vết thương khó lòng khép miệng thỉnh thoảng lại nhói lên từng cơn.
Ôn Nhu đứng bên cửa sổ trong phòng, ngước nhìn vầng trăng sáng treo giữa bầu trời sao, những vì tinh tú lấp lánh tựa như những giọt nước mắt không thể rơi của nàng, từng giọt từng giọt thấm vào tận đáy lòng, dấy lên từng đợt sóng cuộn trào trong tâm trí.
Dưới mái hiên treo chiếc đèn lồng đỏ, khiến nàng không khỏi nhớ đến bộ y phục cưới đỏ rực năm nào. Nàng đã dùng nửa năm trời, từng đường kim mũi chỉ thêu nên hình phượng hoàng gáy dưới ánh trăng, phượng hoàng tung cánh bay trong gió, chiếc đuôi dài lướt qua khoảng không, như đang kể lại những ước nguyện tốt đẹp, cầu mong sự an khang dài lâu.
Chỉ là bộ hỉ phục đỏ thắm ấy cuối cùng lại chẳng có duyên với nàng. Vào đêm trước ngày đại hôn, quân địch xâm lược biên thành, tàn sát không biết bao nhiêu bách tính trong các ngôi làng lân cận. Vị tân lang tài hoa xuất chúng nhận lệnh trong cơn nguy cấp, theo cha xuất chinh kháng địch, suốt mấy tháng trời chinh chiến không một chút tin tức.
Cuộc hôn sự này vốn do lão tướng quân làm chủ, lão tướng quân là cha của tân lang, nhưng tướng quân phu nhân vốn không hài lòng, chê chức quan ngũ phẩm của Ôn thái y quá thấp, trong lòng đã có ứng cử viên con dâu khác. Vì vậy bà ta luôn nung nấu ý định hủy hôn, chỉ vì nể mặt hai cha con đều ưng ý tính tình ôn nhu hiền thục của Ôn Nhu nên mới không thể gây khó dễ.
Ai ngờ cơ hội trời cho lại rơi trúng đầu bà ta. Vừa nghe tin Ôn Chí Cao phạm tội, bà ta không chút do dự đến tận cửa hủy hôn, còn nói ra những lời cay nghiệt, khiến Ôn Nhu vốn đã kiệt quệ cả thể x/ác lẫn tinh thần bị tổn thương sâu sắc, buộc phải lập lời thề đ/ộc rằng kiếp này vô duyên, ba đời ba kiếp không bao giờ gặp lại.
Bị từ hôn, Ôn Nhu đổ b/ệnh một trận thập tử nhất sinh. Sau khi sống lại, nàng trở nên chán chường, vài lần đã nảy sinh ý định tìm đến cái ch*t.
“Tại sao chàng lại đến, ta đã sắp quên được chàng rồi...” Lồng ngựk nhói đ/au, đôi đồng tử trong veo của Ôn Nhu nhìn trăng dần trở nên mờ nhòe.
Miệng nói là quên, nhưng dấu ấn trong tim lại vô cùng rõ nét, hình bóng cứ ám ảnh khôn nguôi khiến nàng giằng x/é trong lòng, không ngừng tự làm khó chính mình.
Là lỗi của nàng sao? Hay chàng là sự bỏ lỡ của nàng? Duyên phận hai người mỏng tựa tờ giấy, không chịu nổi một chút sóng gió nhỏ, khẽ chạm nhẹ là tan vỡ, chẳng thể nào quay lại thuở ban đầu.
Cứ như vậy, Ôn Nhu tự hànhz hạz mình đứng bên cửa sổ suốt cả đêm, tiếng gà gáy báo hiệu bình minh vang lên, đá/nh thức bóng hình đang mịt m/ù vô định.
Một tia nắng vàng rực rỡ từ phương Đông ló dạng, chiếu thẳng vào người nàng. Nàng bỗng sững sờ, hướng về phía ánh ban mai đầu tiên của ngày mới, chợt nhận ra tay chân mình lạnh ngắt, lạnh đến mức gần như mất cảm giác, từng tia nắng thu chiếu lên người mới dần dần ấm lại.
“Á! Đại cô nương, người... người dậy sớm thật đấy...” Đỗ Quyên bưng nước ấm vào trong, chuẩn bị hầu hạ chủ tử rửa mặt, khẽ thốt lên đầy ngạc nhiên.
Nàng là nha đầu mới được m/ua vào phủ cũ nhà họ Ôn một tháng trước, một cô bé nhà quê chưa học hết quy củ, có chút ngốc nghếch và thật thà, nhưng tay chân lại nhanh nhẹn, việc lớn việc nhỏ trong phủ đều tranh làm.
Ôn Nhã, người đứng đầu gia đình sau khi b/án dược liệu ki/ếm được tiền, đã thêm người cho phủ. Bên cạnh tam muội Ôn Hàm có thêm một nha đầu tên Khoản Đông, các đệ đệ cũng có tiểu tư riêng, tổ mẫu tuổi đã cao, ngoài nha đầu hầu hạ còn có một bà lão để bầu bạn, có thể cùng bà trò chuyện vơi bớt nỗi nhớ quê hương.
Trong bếp, Thất thẩm có thêm một tiểu nha đầu giúp nhóm lửa, người gác cổng là một cụ già sáu mươi tuổi, Kiều Thất vẫn là phu xe nhưng kiêm luôn việc hộ vệ.
Thực ra, trong tối ngoài sáng, phủ cũ nhà họ Ôn luôn có hơn mười ám vệ canh giữ, đó là người của Dung Quận Vương Úy Trì Ngạo Phong. Vì hắn vừa định ước hẹn ước trăm năm với nhị cô nương nhà họ Ôn, có lý do danh chính ngôn thuận để đường hoàng bảo vệ vị quận vương phi chưa qua cửa.
Điều kiện là phải đợi Ôn Nhu chịu tang xong ba năm, rồi mới gả chị cả đi, kính trên nhường dưới mà. Thế nên hắn vẫn còn phải đợi, không biết bao giờ mới có thể cùng chung gối uyên ương.
“Ừm! Trời vừa sáng đã bị tiếng chim kêu làm tỉnh giấc.” Nàng bình thản nói dối.
Đỗ Quyên đổ nước ấm vào chậu, nhúng khăn mặt vào rồi vắt khô, đưa đến trước mặt đại cô nương: “Đại cô nương ngủ không ngon sao? Sắc mặt của người trông tệ quá.”
Ôn Nhu với gương mặt ảm đạm trông có vẻ tiều tụy, ánh mắt thiếu đi vẻ sáng ngời như trước, dưới hai mắt có quầng thâm tím tái rất rõ, hơi sưng lên.
Ôn phu nhân lúc sinh thời là một mỹ nhân, con gái sinh ra đương nhiên nhan sắc không tầm thường. Nếu không phải sớm đính ước, Ôn Nhu tròn mười bốn tuổi đã vào cung làm phi tần, trên bảng xếp hạng mỹ nhân ở kinh thành cũng thuộc hàng top đầu.
“Không có gì, chỉ là gặp á/c mộng thôi.” Một giấc mơ khiến nàng không dám chìm vào giấc ngủ.
“Đại cô nương gặp á/c mộng gì mà khiến người sợ đến mức mặt mày tái mét vậy?” Trông như hạt đậu xanh ngâm nước, mặt xanh xao trắng bệch.
“Đỗ Quyên.” Nàng khẽ gọi.
Đỗ Quyên sững người, cười gượng cúi đầu: “Đại cô nương rửa mặt đi ạ.”
Nàng vốn chưa biết nhìn sắc mặt người khác, cũng biết mình đã lỡ lời, đại cô nương vốn ưa tĩnh lặng không thích người hầu bên cạnh lải nhải nhiều lời.
“Lát nữa ta sẽ qua xưởng dệt xem sao, em chuẩn bị một chút đi.” Sau khi rửa mặt xong, Ôn Nhu dùng muối xanh súc miệng, ngồi trước bàn trang điểm chải mái tóc đen nhánh như quạ.