Cố Uyên thở phào nhẹ nhõm, quay đầu trừng mắt nhìn ta: “Ngươi bớt giả thần giả q/uỷ ở đây đi, chỉ là một con Thiên Nhãn thôi mà, lấy đâu ra bản lĩnh lớn đến thế.”
Gã túm cổ áo ta, kéo lê đến góc đại điện rồi quăng xuống.
“Ngoan ngoãn ở đó, mai là lễ tế Q/uỷ Vương, ngươi còn phải vẽ bùa hộ mệnh cho Kiều nhi. Mất một con mắt cũng chẳng ảnh hưởng đến việc ngươi làm đâu.”
Bọn họ rời đi.
Cửa đại điện khép lại, chỉ còn một ngọn đèn lồng ngoài hành lang soi vào, kéo dài cái bóng của ta g/ầy gò và ảm đạm.
Ta co người trong góc tường, dùng con mắt trái duy nhất còn lại nhìn chằm chằm xuống mặt đất.
Các vết nứt tuy đã khép lại, nhưng ta đã nhìn thấy thứ tràn ra từ trong kẽ nứt đó—một luồng khí đen, mảnh như tơ nhện, đang men theo mặt đất chậm rãi khuếch tán.
Kim phù của Cố Uyên chỉ phong ấn được lớp vỏ, chứ không chặn được gốc rễ.
Giống như lấy miếng băng cá nhân dán lên vết thương động mạch chủ vậy.
Ta tựa lưng vào bức tường lạnh lẽo, m/áu ở hốc mắt phải cuối cùng cũng ngừng chảy—Huyền thể có khả năng tự chữa lành, nhưng Thiên Nhãn thì không thể tái tạo. Đó là thứ mà sư phụ đã dùng chính tuổi thọ của mình để đổi lấy, là thứ đ/ộc nhất vô nhị.
Giờ đây, nó đang nằm trên mặt một con búp bê nhựa.
Dưới lòng đất lại truyền đến chấn động, sâu thẳm hơn lúc nãy, tựa như nhịp tim.
“Đùng.”
“Đùng.”
“Đùng.”
Sau ba tiếng thì dừng lại.
Ta đếm nhịp. Theo ghi chép trong thủ bút sư phụ để lại, sau khi mắt trận rời vị trí, phong ấn sẽ tan rã từng lớp trong vòng mười hai canh giờ. Mỗi một tầng tương ứng với một tiếng chấn động—mười ba tầng phong ấn, mười ba tiếng, sau đó trận pháp Bách Q/uỷ Dạ Hành sẽ hoàn toàn sụp đổ.
Vừa rồi là ba tiếng, còn lại mười tiếng.
Trước khi trời sáng, tất cả sẽ kết thúc.
Tiếng bước chân từ xa truyền đến. Không phải Cố Uyên, bước chân nhẹ hơn, mang theo vẻ lê lết.
Cửa nhỏ của thiên điện được đẩy ra, một khuôn mặt ló vào—là bà Chu ở nhà bếp, đang bưng một bát cháo loãng.
“Nha đầu Cửu Lê,” bà hạ thấp giọng đi đến, r/un r/ẩy ngồi xổm xuống, “Ta nghe thấy tiếng ngươi gọi, bọn họ lại...”
Bà nhìn thấy hốc mắt phải của ta, bát cháo suýt chút nữa tuột khỏi tay.
“Trời ơi! Mắt của ngươi!”
Ta ấn tay bà lại khi bà định đưa tay chạm vào: “Bà ơi, nghe ta nói đây, bà đi ngay bây giờ đi. Đi theo con đường nhỏ phía sau núi, trước khi trời sáng đừng có quay lại.”
Bà Chu ngẩn người: “Cái gì?”
Tiếng chấn động thứ tư vang lên.
Lần này ngay cả bà cũng cảm nhận được. Nước cơm trong bát sóng sánh gợn lên, bụi trên xà nhà rơi xuống lả tả.
“Đi mau.” Ta đẩy bà về phía cửa, “Đừng quay đầu lại, đừng nói chuyện với bất kỳ ai, nhìn thấy gì cũng đừng dừng lại.”
Bà Chu không hiểu tại sao, nhưng bà đã quen biết ta mười ba năm, chưa từng thấy ta có vẻ mặt này bao giờ.
Bà gật đầu, lảo đảo chạy ra ngoài.
Tiếng thứ năm.
Ngọn đèn lồng ngoài hành lang vụt tắt.
Không phải do gió thổi tắt—bấc đèn vẫn còn, nhưng ngọn lửa đã biến mất. Như thể bị thứ gì đó hút sạch trong một hơi.
Bóng tối ùa vào đại điện, con ngươi mắt trái của ta co rút lại, nhìn thấy những sợi tơ đen trong khe gạch đang bò lên trên.
Chúng bò lên cột, bò lên xà nhà, bò lên pho tượng vàng của Tam Thanh Tổ Sư.
Một con ngươi của pho tượng vàng “keng” một tiếng rơi xuống, lăn đến bên chân ta.
Ta cúi đầu nhìn con ngươi lưu ly kia, đột nhiên muốn cười.
Lại là con ngươi—
3.
Khi tiếng chấn động thứ sáu vang lên, ta nghe thấy tiếng thét thảm thiết đầu tiên truyền đến từ phía sau núi.
Không phải bà Chu—bà ấy đi lối nhỏ phía tây, tiếng thét đến từ phía nhà củi ở phía đông.
Là tiểu đạo sĩ trực đêm, pháp danh Thanh Bình, năm nay mới mười bốn tuổi.
Ta bò dậy, cơ ở hốc mắt phải vẫn còn co gi/ật, nhưng chân đã có thể cử động. Ta vịn tường đi về phía nhà củi.
Nhưng không đến nơi.
Khi đến dưới hành lang, ta nhìn thấy Thanh Bình—thằng bé nằm bò trên bậc thềm đ/á xanh, tứ chi vẫn còn cử động, nhưng cái đầu đã bị xoay ngược lại. Cổ vặn một trăm tám mươi độ, mặt hướng lên trời, hai mắt trợn trừng, đôi môi vẫn còn mấp máy.
“Sư... sư tỷ...” Giọng nói của nó nặn ra từ cái cổ đã bị vặn g/ãy, giống như ống bễ bị rò khí.
Sau lưng nó đứng một thứ.
Nói là “người” cũng không đúng—nó có đường nét của con người, nhưng toàn thân đen kịt như mực, giống như một mảnh giấy phẳng được c/ắt ra từ bóng tối. Người giấy nghiêng đầu nhìn ta, cái miệng cười ngoác đến tận mang tai.
Sau đó nó cúi người, nhấc bổng Thanh Bình lên, như nhấc một con gà.
Ta lao lên.
Không bùa chú, không pháp khí, không Thiên Nhãn—ta chẳng có gì cả. Ta chỉ lao lên, nắm ch/ặt lấy cổ chân Thanh Bình.
Người giấy quay đầu nhìn ta, há miệng, từ trong cổ họng nó phát ra một thứ âm thanh như kim loại cào trên mặt kính.
Tai trái ta “ông” một tiếng, màng nhĩ suýt chút nữa vỡ tan.
Nhưng ta không buông tay.
Ta cắn nát đầu lưỡi, phun m/áu lên ngón tay, vẽ nửa chữ “Trấn” lên cổ chân Thanh Bình.
Chỉ mới vẽ được một nửa—bởi vì bàn tay kia của người giấy đã xuyên qua vai ta rồi.
Không phải “đ/âm xuyên”, mà là “xuyên qua”. Giống như tay cắm vào trong nước vậy, không có vết thương, nhưng hơi lạnh từ sâu trong xươ/ng cốt thấm ra ngoài, toàn bộ cánh tay ta lập tức mất đi cảm giác.