Vị ki/ếm khách sa cơ đó tên là Mạnh Chiêu, là một lão binh trấn thủ biên cương, vì bị thương nặng nên mới lui khỏi tiền tuyến. Thấy ta dập đầu, ông ta cũng chẳng khách sáo, ngày hôm sau liền chuyển đến ở trong căn chòi củi ở hậu viện phủ Thẩm, bắt đầu dạy ta luyện ki/ếm.
Mạnh Chiêu dạy ta năm năm, từ tấn mã bộ cơ bản cho đến chiêu thức gi*t người, chưa bao giờ giấu nghề. Nhưng ông ta không phải một mình đến kinh thành, ông ta còn một vị thượng cấp trẻ tuổi, cứ vài tháng lại đến hậu viện phủ Thẩm thăm ông ta một lần, nhân tiện chỉ điểm cho ta vài chiêu.
Vị thượng cấp trẻ tuổi đó, chính là Bùi Thú.
Chỉ là năm đó hắn chưa bao giờ xưng tên thật, chỉ bắt ta gọi hắn là “Đại sư huynh”. Ta cứ ngỡ hắn là đệ tử của Mạnh Chiêu, không ngờ lại là thượng cấp của ông ta.
Càng không ngờ hắn lại là hoàng tử.
Bùi Thú cũng nhận ra ta.
Hắn nheo mắt nhìn ta một lúc, buột miệng gọi một tiếng: “A Triệt?”
Cách gọi này đã quá lâu rồi không còn ai gọi nữa.
Khi mẫu thân còn sống, bà thích gọi ta như vậy nhất, sau đó Mạnh Chiêu và “Đại sư huynh” cũng gọi theo. Về sau nữa ta xuống tóc đi tu, rồi xuống núi vào cung, thì chẳng còn ai gọi ta như thế nữa.
Ta nhảy từ trên tường xuống, đưa tay gi/ật phăng chiếc mặt nạ của mình.
Thập Nhất vẫn đang rên rỉ dưới đất, ta ngồi xổm xuống bồi thêm một chưởng vào gáy hắn, khiến hắn hoàn toàn ngất lịm đi.
“Sao ngươi lại đến đây?” Bùi Thú thu ki/ếm, khoanh tay nhìn ta, “Bùi Thầm phái ngươi đến gi*t ta?”
“Không phải.”
“Vậy ngươi đến làm gì?”
Ta đá/nh ngất hai kẻ còn lại, đứng dậy phủi tay.
“Đến để giao dịch với ngươi một chuyện,” ta nói, “không gi*t ngươi, ngươi dạy ta một bộ ki/ếm pháp mới.”
Bùi Thú nhìn ta một lúc, bỗng nhiên bật cười.
Dáng vẻ hắn cười y hệt như năm đó ở hậu viện phủ Thẩm, rõ ràng là một vị tướng quân, nhưng cười lên lại giống như một cậu thiếu niên. Hắn vươn tay búng nhẹ vào trán ta, lực đạo không nhẹ, búng cho ta lùi lại một bước.
“Vẫn như hồi nhỏ, không lớn không nhỏ.”
Hắn thu ki/ếm, ngoắc ngoắc ngón tay với ta.
“Ba chiêu, học xong thì cút, đừng đứng đây chướng mắt.”
Trước khi trời sáng, ta trèo tường trở về Đông Cung.
Bùi Thầm ngồi trong chính điện chờ ta, trên bàn bày một chén trà, đã chẳng còn bốc khói.
Ta quỳ một gối xuống, bẩm báo theo lời đã soạn sẵn, nói rằng phủ Đại hoàng tử canh phòng nghiêm ngặt, Bùi Thú sớm đã có đề phòng, nhiệm vụ thất bại, Thập Nhất và hai người kia bị thương nặng, đã bị Đại hoàng tử giữ lại.
Bùi Thầm nghe xong, im lặng rất lâu.
Hắn bưng chén trà đã nguội ngắt lên nhấp một ngụm, yết hầu chuyển động.
“Ngươi có bị thương không?”
“Không ạ.”
“Vậy thì tốt.”
Hắn đặt chén trà xuống, đứng dậy đi đến trước mặt ta. Ta tưởng hắn định ph/ạt mình, nào ngờ hắn vươn tay chỉnh lại lớp giáp hộ thân bị lệch trên vai ta, đầu ngón tay chạm vào da th!t trên cổ ta, lạnh buốt.
“Bế môn tư quá ba ngày,” hắn nói, “không được phép rời khỏi Đông Cung.”
Ta ngẩng đầu nhìn hắn.
Biểu cảm của hắn trông rất bình thản, nhưng ta luôn cảm thấy ánh mắt hắn nhìn ta có gì đó không đúng. Không phải tức gi/ận, mà là một thứ gì đó khác mà ta không gọi tên được, như thể đang x/ác nhận xem ta có mất sợi tóc nào không vậy.
Ba ngày cấm túc, đối với ám vệ mà nói hầu như chẳng được tính là hình ph/ạt.
Ta ngoan ngoãn ở lại Đông Cung suốt ba ngày, sáng sớm ngày thứ tư rời cung, định đi đến tiệm th/uốc ở phía bắc thành m/ua chút rư/ợu th/uốc và dược liệu, bổ sung vào túi th/uốc mang theo bên mình.
Tiệm th/uốc đang gói th/uốc trên quầy, cửa tiệm bỗng truyền đến tiếng một nữ tử.
“Cô nương nhà ta đã nói rồi, chuyện vị đại tiểu thư nhà họ Thẩm kia, trong kinh thành ai mà không biết? Quanh năm suốt tháng ở trong am ni cô, bên cạnh đi đi lại lại là những hạng người nào, ai mà nói chắc được chứ?”
Ta đặt lọ th/uốc trong tay xuống, quay đầu lại.
Một nha hoàn mặc áo xanh đang đứng ở cửa tiệm, đang thì thầm to nhỏ với một bà lão. Khuôn mặt nha hoàn đó ta nhận ra, là Xuân Lan, nha hoàn thân cận bên cạnh Thẩm Vẫn.
Năm đó khi mẫu thân ta bị vu oan không giữ đạo phụ, người của nhị phòng cũng chính là đang nhai lại những lời như thế. Trước là nha hoàn nô bộc truyền tai nhau, sau đó truyền đến tai tộc lão, cuối cùng biến thành bằng chứng thép không thể chối cãi.
Ta đi tới, đưa tay túm lấy vai Xuân Lan, xoay người ả lại.
Ả nhìn rõ mặt ta, câu nói còn dang dở liền nghẹn lại tại cổ họng.
Ta chẳng buồn phí lời với ả, trái phải vung tay t/át ả hai bạt tai.
Tiệm th/uốc im bặt trong giây lát, tất cả mọi người đều quay đầu nhìn lại.
Xuân Lan ôm mặt lùi lại, bị ta túm lấy cổ áo lôi trở về.
“Về nói với cô nương nhà ngươi,” ta nhìn chằm chằm vào mắt ả, từng chữ từng chữ nói, “ai còn dám tung tin đồn nhảm bôi nhọ ta, lần sau thứ ta x/é không phải là cái miệng của ngươi, mà là khuôn mặt của ả.”
Ta buông tay, Xuân Lan lảo đảo chạy ra ngoài.
Bà lão bên cạnh cũng vội vàng chuồn mất, tiểu nhị trong tiệm th/uốc cúi đầu giả vờ bận rộn.
Ta ném vụn bạc lên quầy, cầm gói th/uốc rồi bước ra cửa. Ánh nắng ngày thu làm người ta chói mắt, ta đứng bên đường ngẩng đầu nhìn sắc trời, trong lòng bỗng thấy vô cùng ngột ngạt.
Mẫu thân năm đó cũng chính là bị nhị phòng từng bước dồn vào đường cùng như thế.
Trước là lời đồn, sau là vu khống, cuối cùng là một sợi dây thừng và một vũng nước lạnh.
Mà những năm qua, ta chưa bao giờ dám quay về để làm rõ rốt cuộc là kẻ nào tung tin đồn, ai là kẻ đưa dây thừng, và ai là kẻ đã ấn đầu mẫu thân ta dìm xuống nước.
Ta sợ.
Sợ rằng đến cuối cùng lại phát hiện ra sự hèn nhát và vô dụng của chính bản thân mình, còn đáng gh/ét hơn cả những kẻ thủ á/c kia.