Tôi nhai miếng tôm rồi suy nghĩ một chút.
"Chuyển đến đâu ạ?"
"Tiểu học tốt nhất ở đây. Hệ quốc tế cũng được. Tùy xem con muốn học kiểu nào."
Tưởng Nguyệt bổ sung: "Cũng không cần vội. Con có thể nghỉ ngơi ở nhà một thời gian. Đợi dưỡng sức khỏe tốt rồi hãy đi."
Tôi đặt đũa xuống.
"Con muốn đi học."
Cả hai người đồng loạt nhìn tôi.
"Trước đây thành tích của con đứng top năm toàn khối," tôi nói, "nhưng ngôi trường đó tệ quá. Những gì thầy cô dạy con đều biết cả rồi. Con muốn đến một ngôi trường tốt hơn."
Khóe miệng Trì Nghiễn Tranh khẽ động.
"Được. Ngày mai bố sẽ cho người liên hệ."
"Nhưng--" tôi khựng lại một chút.
"Sao thế?"
"Con không có kinh nghiệm kết bạn."
Tưởng Nguyệt chớp chớp mắt.
"Ý là--" tôi nghĩ cách diễn đạt, "trước đây ở trường, chẳng ai nói chuyện với con cả. Con cũng không biết cách nói chuyện với người khác. Nếu đến trường mới mà vẫn không ai chơi với con thì..."
"Vậy thì không chơi với họ nữa." Trì Nghiễn Tranh nói.
Tưởng Nguyệt huých ông một cái: "Anh dạy cái gì thế--"
"Ý bố là," ông đặt đũa xuống, nhìn tôi nghiêm túc, "chuyện kết bạn không cần phải miễn cưỡng. Con cứ là chính mình. Người thích con tự khắc sẽ lại gần. Người không thích con thì không đáng để con thay đổi bản thân để lấy lòng họ."
Tưởng Nguyệt suy nghĩ một chút rồi thở dài: "Tuy cách nói không chuẩn lắm, nhưng đạo lý thì đúng."
Bà nắm lấy tay tôi: "Niệm, trường mới sẽ có rất nhiều bạn nhỏ trạc tuổi con. Họ sẽ không bài xích con chỉ vì quần áo con cũ hay trên người con có mùi--vì con sẽ không bao giờ phải mặc quần áo cũ nữa, cũng sẽ chẳng còn mùi gì cả. Con chỉ cần là chính mình thôi."
Tôi gật đầu.
Thực ra điều tôi lo lắng không phải là quần áo hay mùi cơ thể.
Điều tôi lo là--tôi không biết cười.
Tám năm ở nhà họ Tiền, tôi không cười mấy.
Không phải không muốn cười. Mà là không biết khi nào nên cười, khi nào không. Ở cái nhà đó, cười là nguy hiểm. Vì chỉ cần con cười, nghĩa là con "đang sống tốt", vậy thì không cần cho con ăn no nữa.
Nên tôi không cười. Vô cảm là cách an toàn nhất.
Nhưng lũ trẻ ở trường mới--
Chúng sẽ không thích một người không biết cười.
Vấn đề này tôi không nói ra.
Vì nói ra nghe có vẻ làm quá.
Tôi tám tuổi.
Không nên nghĩ nhiều như vậy.
"Đúng rồi," Trì Nghiễn Tranh chợt nhớ ra điều gì, "Niệm--con tên là gì?"
Tôi ngẩn người.
"Ở bên kia... họ gọi con là gì?"
"Tiền Đóa," tôi nói, "họ đặt đại thôi ạ."
"Tiền Đóa." Ông lặp lại một lần. Trong giọng điệu không nghe ra cảm xúc gì.
"Tên của con là Trì Niệm D/ao," Tưởng Nguyệt nói, "lúc con chào đời bố đặt cho. 'Niệm' là nỗi nhớ nhung. 'D/ao' là viên ngọc đẹp."
"Niệm D/ao..." tôi tự nhẩm một lần.
Cái tên này--thú thật, hay hơn "Tiền Đóa" vạn lần.
"Gọi là Niệm thôi," Trì Nghiễn Tranh nói, "bố và mẹ đều gọi con là Niệm."
Tôi nhẩm lại lần nữa: "Niệm."
Ừm.
Tôi thích.
Giống như có người đang gọi mình, hơn nữa còn là gọi một cách nghiêm túc.
Không phải "này", "đứa kia", hay "đồ lỗ vốn".
Là một cái tên ý nghĩa thuộc về chính tôi.
"Vâng," tôi nói, "con tên là Trì Niệm D/ao."
Tưởng Nguyệt mỉm cười.
Trì Nghiễn Tranh cũng cười.
Khoảnh khắc này, không khí trên bàn ăn--
Ánh đèn vàng ấm áp. Bốn món một canh. Ba con người.
Tôi cảm thấy bụng rất no,
mà trái tim cũng rất đầy.
Ngày thứ tám.
Việc chuyển trường được thúc đẩy cực nhanh.
Trì Nghiễn Tranh gọi một cuộc điện thoại đến trường tiểu học thực nghiệm tốt nhất thành phố. Hiệu trưởng đích thân tiếp đón. Tưởng Nguyệt dẫn tôi đi tham quan trường một lần.
Tòa nhà dạy học mới tinh. Đường chạy nhựa. Thư viện. Phòng thí nghiệm. Mỗi phòng học đều có điều hòa và máy chiếu.
So với ngôi trường cũ chỉ có hai tòa nhà, sân chơi là đất vàng của tôi--
Đúng là một trời một vực.
"Niệm, con học lớp mấy?"
"Lớp hai ạ. Nhưng con có thể học nhảy lớp."
Tưởng Nguyệt và hiệu trưởng đồng loạt nhìn tôi.
"Con--chắc chứ?" Hiệu trưởng hỏi.
"Trước đây con tự đọc sách giáo khoa lớp ba rồi. Trong thư viện có. Con đọc gần hết rồi ạ."
Hiệu trưởng chớp mắt, quay sang nhìn Tưởng Nguyệt.
Khóe miệng Tưởng Nguyệt mỉm cười: "Vậy thì kiểm tra thử nhé? Nhờ thầy cô ra một bộ đề thi cuối kỳ lớp ba?"
"Được ạ," tôi nói.
Chiều hôm đó, tôi ngồi trong văn phòng hiệu trưởng làm một bộ đề thi cuối kỳ lớp ba.
Văn 94, Toán 97, Anh 88.
Tiếng Anh hơi kém một chút--vì tiết tiếng Anh ở trường cũ nhà họ Tiền gần như không học gì.
Hiệu trưởng nhìn bài thi, đẩy gọng kính.
"Thành tích này... học thẳng lên học kỳ hai lớp ba không vấn đề gì. Phần tiếng Anh tôi sẽ sắp xếp giáo viên kèm một-một cho con."
Tưởng Nguyệt ký tên.
Ba ngày sau chính thức nhập học.
Lớp 3(2).
Sáng ngày khai giảng, Tưởng Nguyệt tết cho tôi hai bím tóc.
Tay bà rất khéo. Bím tóc tết ch/ặt, đuôi tóc buộc hai chiếc nơ hồng.
"Đẹp không?" bà xoay tôi ra trước gương.
Cô bé trong gương--
Đồng phục mới, phối màu trắng xanh, rất sạch sẽ. Vết sưng trên mặt đã tan, sắc mặt tuy còn hơi vàng nhưng đã tốt hơn trước rất nhiều.
Hai bím tóc rủ trên vai.
Đôi mắt sáng ngời.
So với khuôn mặt trong thùng rác ngày đó--đẹp hơn quá nhiều.
"Đẹp ạ," tôi nói.