Trên bàn có giấy trắng, ta cầm bút viết thư cho cấm quân thống lĩnh Chương đại nhân, Ngự sử đại phu Trương đại nhân và Lễ bộ Chu thị lang. Khi phụ thân còn tại thế từng nói, ba người này trung quân, có thể phó thác. Trong thư, ta nói Thái tử đang lâm vào cảnh nguy nan, xin họ ổn định triều cục chờ ta hồi kinh. Tự tay viết, không đóng ấn tín để tránh bị chặn.
Sau khi niêm phong, ta giao cho thân binh: "Phi ngựa gửi đi, chọn đường kín đáo, giấu trong lớp Iót yên ngựa mà đi." Thân binh tiếp nhận, đêm đó xuất phát ngay.
Nhưng chỉ dựa vào thư thì không đủ. Lính gác ngoài trướng báo: "Tướng quân, có một lão thái giám cầu kiến, bị thương do tên, nói là từ kinh thành trốn ra."
Ta lập tức ra khỏi trướng. Một lão thái giám tóc hoa râm được binh sĩ dìu, vết tên trên vai trái vẫn còn rỉ m/áu. Ta nhận ra đó là Triệu công công bên cạnh Hoàng thượng. Ông ta cố quỳ xuống, ta đỡ lấy: "Sao ngươi trốn ra được?"
Ông ta thở hồng hộc: "Hoàng hậu vây hãm nội cung, thanh trừng những người bên cạnh Hoàng thượng. Lão nô trốn dưới sàn điện Thọ An, nhân đêm tối trèo tường chạy ra. Dọc đường đổi năm con ngựa, vẫn bị trúng một mũi tên."
Ông ta lấy từ trong ngựk ra một hộp gỗ, r/un r/ẩy đưa cho ta: "Tiên đế từng ước định với lão tướng quân, nếu có bất trắc, chỉ tin tưởng một nhà Lâm tướng quân. Mật chiếu này xin người giữ lấy. Trước lúc lâm chung, Hoàng thượng dặn lão nô phải giao cho tướng quân."
Ta nhận hộp gỗ. Sáp niêm phong còn nguyên vẹn, đóng ấn nhỏ của Tiên đế. Dùng d/ao găm khẽ cạy, bên trong là một cuộn lụa vàng. Mở ra, nét mực đã cũ, là bút tích của Tiên đế: "Nếu trẫm có bất trắc, lệnh Lâm Thanh Âm lập tức tiến kinh, phò tá Thái tử đăng cơ. Gặp việc có thể đ/ộc đoán, không cần xin chỉ thị. Chiếu này chỉ một mình Lâm Thanh Âm được tin."
Lòng ta chấn động. Triệu công công lại nói ra lời Tiên đế từng dặn dò phụ thân ta trong quân doanh phương Bắc năm xưa: "Ki/ếm của tướng quân, Tiên đế từng nói, mũi ki/ếm hướng về phía Đông, không phải hướng về phía Bắc." Câu này chỉ có phụ thân, ta và Tiên đế biết. (Hoàng thượng, người đã sớm lường trước ngày này.)
Ta cất mật chiếu, đỡ Triệu công công ngồi vào ghế. Ông ta nói: "Tướng quân, Hoàng hậu đã kh/ống ch/ế cấm quân kinh thành, người trở về e là hung nhiều cát ít."
Ta cười lạnh: "Ta có mật chiếu của Tiên đế trong tay, thanh quân trắc là danh chính ngôn thuận. Bà ta dám cản ta, chính là kháng chỉ."
Triệu công công mấp máy môi, không nói gì thêm. Trần Húc bên cạnh hỏi: "Truyền hịch sao?"
Ta gật đầu: "Truyền ngay trong đêm. Hịch văn đóng dấu mật chiếu, gửi tới các châu phủ, bảo họ xuất binh cần vương." Rồi quay sang Trần Húc: "Ba kẻ tai mắt trong quân vẫn giữ lại."
Trần Húc hỏi: "Có cần trừ khử không?"
Ta lắc đầu: "Để lại. Cho chúng truyền tin, cứ nói ta sắp hồi kinh cần vương."
Trần Húc không hiểu. Ta nói: "Để bà ta tăng cường phòng bị, bà ta càng căng thẳng thì phòng thủ thành càng dễ sơ hở. Đợi bà ta sắp xếp xong, ta đã đến dưới chân thành rồi."
Trần Húc chắp tay: "Mạt tướng hiểu."
Hắn định đi ra lại quay lại: "Tướng quân, tai mắt trong cung truyền tin, ngăn bí mật ở điện phụ phía Tây tẩm cung Hoàng hậu có cất giấu thư từ. Thủ vệ cực kỳ nghiêm ngặt, cần đợi Hoàng hậu rời cung mới có thể hành động."
Ta gật đầu: "Bảo người đó đợi khi Hoàng hậu lên thành lầu đốc chiến thì hãy ra tay lấy thư."
Trần Húc vâng lệnh lui ra. Ta quay lại trước án, trải giấy, chấm mực viết hịch văn. "Gian hậu lo/ạn chính, thí quân thiết quốc". Tám chữ viết xuống, ngòi bút mạnh đến xuyên giấy. Viết xong đóng ấn mật chiếu, giao cho Trần Húc: "Gửi đi ngay trong đêm."
Hắn tiếp nhận, cuộn kỹ, bọc vào vải dầu chống nước.
Trời hửng sáng. Ta buông bút ra khỏi trướng. Trên sườn núi, đại quân đã dàn trận, binh sĩ đứng ngay ngắn. Trần Húc dắt ngựa tới, đưa cho ta một cái bánh khô: "Tướng quân, ăn trên đường đi."
Ta nhận lấy nhét vào túi, nhảy lên ngựa, ghì ch/ặt dây cương, nhìn về hướng kinh thành. (Thái tử còn đang đợi ta. Còn có mối th/ù của Trần Húc nữa.)
Ta cúi đầu sờ cây trâm bạc trong cổ áo, nó vẫn cắm cứng ở đó. Ta hít sâu một hơi, cất tiếng: "Xuất phát!"
Tiếng vó ngựa vang lên rền rĩ. Đại quân chậm rãi tiến về phía trước, cờ xí tung bay trong gió sớm. Ta không ngoái đầu, thúc ngựa tiến lên.
Đại quân ngày đêm không nghỉ, năm ngày sau tới cửa kinh thành. Từ xa đã thấy cổng thành đóng ch/ặt, cầu treo treo cao, trên tường thành hàng hàng cung thủ đã vào vị trí. Ta ghì ngựa, giơ tay ra hiệu cho quân đội dừng lại. Phó tướng bước tới hỏi có cần hạ trại không, ta nói không cần, trực tiếp dàn trận gây áp lực.
Hoàng hậu đứng trên thành lầu, khoác hoa phục, cười lạnh nhìn ta. Bà ta quát lớn: "Lâm Thanh Âm, ngươi mưu phản!"
Bà ta tiếp tục: "Lâm Thanh Âm, cha ngươi nếu còn sống, cũng sẽ lấy ngươi làm nh/ục!"
Ta cao giọng đáp: "Cha ta trung thành với Tiên đế, không phải với kẻ tr/ộm quốc như ngươi. Hoàng hậu, ngươi thí quân thiết quốc, còn mặt mũi nhắc đến cha ta sao?"
Ta lấy mật chiếu ra, giơ cao, lớn tiếng tuyên đọc: "Tiên đế di chiếu ở đây! Lệnh ta phò tá Thái tử, trừ khử gian hậu! Hoàng hậu, ngươi mới là kẻ phản tặc!"
Bà ta cười: "Mật chiếu? Ai biết có phải ngươi ngụy tạo không. Cấm quân nghe lệnh, Lâm Thanh Âm mưu phản, gi*t không tha!"
Trên thành xôn xao, nhưng cấm quân không ai động đậy. Sắc mặt bà ta thay đổi. Ta lớn tiếng nói: "Các huynh đệ cấm quân, di chiếu Tiên đế ở đây, Hoàng hậu mới là phản tặc! Các ngươi muốn trợ trụ vi ngược sao?"
Trên thành vẫn im lặng, nhưng một số binh sĩ đã hạ cung tên xuống. Hoàng hậu nổi gi/ận, đích thân hạ lệnh: "B/ắn tên!"
Tiếng tên x/é gió lao xuống. Ta hô: "Khiên!"
Thân binh giơ đại khiên lên, tên đ/ập vào nghe đinh đinh. Ta nép sau khiên, quan sát trên thành.