Ăn cơm xong, tôi đứng dậy đi vào phòng bà nội.
Trên bàn trang điểm vẫn để chiếc lược gỗ cũ của bà.
Tôi cầm chiếc lược lên, giữa những kẽ răng lược vẫn còn vương vài sợi tóc bạc.
Tôi đặt nó lại chỗ cũ.
Khi quay người lại, tôi thấy khung ảnh đặt trên tủ đầu giường.
Tôi cầm khung ảnh lên lau bụi,
Một mảnh giấy nhỏ trượt ra từ mặt sau khung ảnh.
(Những lời vừa rồi không phải tình cờ rơi ra đâu. Bà đã tính toán kỹ lưỡng từng bước một.)
Tôi mở mảnh giấy ra.
Nét chữ của bà nội:
“Tiểu Vũ, bí mật của chiếc chìa khóa đồng chỉ mới được giải đáp một nửa. Khi nào con đã suy nghĩ thấu đáo, hãy đến trước m/ộ bà, cắm chìa khóa vào đế bia m/ộ.”
Tôi lật đi lật lại đọc hai lần.
Đúng là chữ của bà nội.
Không sai vào đâu được.
Giấy đã ố vàng, các góc đều có nếp gấp.
Tôi siết ch/ặt mảnh giấy.
(Chiếc chìa khóa đồng còn một lớp bí mật nữa sao? Vẫn chưa hết ư? Rốt cuộc bà đã giấu bao nhiêu thứ? Xem ra bà vẫn còn để lại một bài toán cuối cùng.)
Tôi quyết định sáng sớm mai sẽ đi thăm m/ộ.
Đêm khuya, tôi nằm trên giường.
Chiếc chìa khóa đồng nằm gọn trong tay, cấn vào lòng bàn tay.
Trong đầu tôi cứ lởn vởn những chuyện về bà lúc sinh thời – bài hát bà hay ngân nga khi nhặt rau, nét chữ r/un r/ẩy của bà, những lời bà giấu dưới đáy hộp sắt.
Bà đã sớm biết tất cả những chuyện này sẽ xảy ra.
Bà từng nói, có những chuyện phải tự mình đi qua mới tính là trải nghiệm.
Bà từng nói: “Tiểu Vũ, con thông minh hơn bố con. Nhưng thông minh dễ làm tổn thương người khác, phải học cách thu liễm lại.”
Tôi thả lỏng chiếc chìa khóa, ngón tay hơi cứng lại.
Tôi nằm trên giường,
Nhớ lại lần cuối cùng bà nội đến ngân hàng, bà nhờ tôi điền giúp tờ đơn.
Bà ngồi bên cạnh nhìn tôi viết xong, đột nhiên nói:
“Tiểu Vũ, có vài thứ bà để lại cho con. Con hãy tự mình đi tìm nhé.”
Lúc đó tôi không hỏi thêm.
Bây giờ mới hiểu, điều bà nói chính là từng bước một này.
(Mỗi lời bà nói, hôm nay tôi đều đã kiểm chứng từng chút một.)
Tôi nhắm mắt lại.
Ngày mai đi thăm m/ộ.
(Hy vọng có thể giải mã hết mọi bí ẩn. Nhưng tôi biết, dù không giải được, thì kế hoạch của bà cũng đã hoàn thành rồi.)
Ánh trăng ngoài cửa sổ chiếu vào.
Tôi nắm ch/ặt chiếc chìa khóa đồng, nhìn chằm chằm vào vết nứt trên trần nhà.
Dưới lầu vọng lên tiếng nói chuyện trầm thấp.
Là bố và cô.
Không nghe rõ nội dung, nhưng giọng điệu rất hòa bình.
Chắc là họ cũng đang trò chuyện về chuyện của bà.
Sự sắp đặt của bà vẫn chưa kết thúc.
Trong đế bia m/ộ, chắc chắn còn thứ cuối cùng bà để lại cho tôi.
(Tôi biết rồi. Bà đang đợi tôi. Bà vẫn luôn đợi tôi giải hết những nút thắt mà bà đã giăng ra. Còn tôi, đang tiến về phía cánh cửa cuối cùng.)
Đường còn dài, nhưng tôi không sợ.
Sáng sớm hôm sau, tôi một mình bắt xe đi đến nghĩa trang của bà.
Xe buýt ngoại ô cứ nửa tiếng có một chuyến.
Tôi đứng ở bến xe, nắm ch/ặt chiếc chìa khóa đồng, răng chìa cấn vào lòng bàn tay.
Xe đến, tôi bỏ tiền xu rồi ngồi xuống hàng ghế cuối.
Cảnh vật ngoài cửa sổ từ những tòa nhà cao tầng chuyển thành đồng ruộng, rồi lại thành núi non.
Đến trạm, tài xế gọi một tiếng, tôi đứng dậy nhảy xuống xe.
Đi dọc theo con đường núi lên trên.
Bậc đ/á có đọng sương, đế giày hơi trơn, tôi cố gắng giữ vững bước chân.
Cây cối hai bên rất cao, xung quanh vô cùng yên tĩnh.
Đi bộ khoảng mười phút, địa thế dần bằng phẳng.
Bia m/ộ của bà nội sừng sững ở đó, trước m/ộ có người đặt hoa, cánh hoa đã héo úa.
Tôi đi đến trước bia, ngồi xổm xuống, quỳ trên phiến đ/á.
Lấy bó cúc trắng từ túi trong áo khoác ra, đặt trước đế bia.
Lùi lại nửa bước, dập đầu ba cái.
Trán chạm đất, dừng lại vài giây.
Lạy xong không đứng dậy ngay, cứ quỳ đó không động đậy.
(Bà nội, con đến rồi. Chìa khóa con mang đến đây rồi.)
Tôi ngẩng đầu lên, ánh mắt rơi vào góc dưới bên phải của đế bia.
Quả nhiên ở đó có một cái rãnh nhỏ, chiều rộng vừa khớp với chiếc chìa khóa đồng.
Tôi rút chiếc chìa khóa đồng đang đeo trên cổ ra, áp sát vào cái rãnh, căn chỉnh rồi đẩy vào tận cùng.
Vặn theo chiều kim đồng hồ,
Tay hơi trượt, tôi đổi góc dùng lực, nghe tiếng "cạch" một cái, bên trong bật mở.
Bên hông đế bia bật ra một ngăn kéo sắt màu xám đậm, kích thước khoảng mười centimet vuông.
Trong ngăn kéo nằm một phong bì giấy da bò, một cuốn sổ tiết kiệm, và một tấm ảnh nhỏ của bà nội.
Trong ảnh, tinh thần bà rất tốt, đang mỉm cười.
Tôi cầm phong bì lên, ngón tay hơi cứng lại.
Không dán kín, tôi lật nắp phong bì, rút tờ giấy viết thư ra.
Thư có hai tờ, mặt trước viết kín chữ, nét chữ chỉnh tề, lực bút rất sâu.
Tôi tựa vào bên bia m/ộ, bắt đầu đọc thư.
“Tiểu Vũ, khi con tìm đến đây, nghĩa là con đã trải qua những gì cần trải qua. Chiếc chìa khóa đồng này là vật đính ước ông nội con tặng bà thời trẻ, sau khi ông mất bà đã giữ gìn suốt cả đời. Số tiền trong sổ tiết kiệm là dành cho con, mật mã là ngày sinh của con.
Đừng trách bà sắp đặt nhiều như vậy – bà chỉ muốn con ghi nhớ rằng, dù xảy ra chuyện gì, người nhà đều có thể hòa giải, nhưng tôn nghiêm thì không được đá/nh mất.
Trong ảnh là ông nội con, Lý Ngọc Thành, bà cố tình viết dòng chữ đó ở mặt sau tấm ảnh, là muốn nếu có một ngày bố con nhìn thấy, ông ấy sẽ truy hỏi về thân thế của mình, từ đó chủ động khám phá ra sự thật, thay vì cứ mãi sống trong nghi kỵ.
Đồng thời cũng có thể đá/nh lạc hướng những kẻ đang âm thầm dòm ngó, khiến chúng tưởng bố con không phải con ruột, từ đó mất cảnh giác với tài sản.
Đứa trẻ ngoan, hãy tha thứ cho sự sắp đặt của bà, mỗi bước bà đều là vì muốn tốt cho các con.
Cuộc điện thoại đó là bà nhờ bà Vương dùng chiếc điện thoại cũ bà để lại gọi định kỳ cho con, đừng sợ, đó là sắp đặt của bà. Bà chỉ bảo bà Vương mở máy một lần, gọi định kỳ cho con, nên bố con bình thường không gọi được.
Nếu sau này con nhận được một tin nhắn lạ, đó là câu đố cuối cùng mà bà nhờ bà Tôn giúp gửi cho con.”