Tôi lập tức dùng điện thoại chụp lại bảng sao kê, gửi cho luật sư Chu.
Cô ấy hồi đáp:
“Đã nhận, tôi đang soạn thảo đơn xin lệnh điều tra.”
Ngày hôm sau, tôi mang theo lệnh điều tra đến ngân hàng một lần nữa.
Nhân viên giao dịch xem một lúc rồi đứng dậy đi tìm quản lý ký tên.
Vài phút sau quay lại, cô ấy trích xuất cho tôi sao kê tài khoản chung của Trần Phong.
Trang giấy hiển thị tám lần chuyển khoản trong vòng ba tháng gần nhất, tổng cộng hai trăm nghìn tệ, tên người nhận đều ghi là Tô Tình.
Tôi hỏi:
“Có thể đóng dấu mộc ngân hàng không?”
Nhân viên liếc nhìn tôi một cái, rồi đóng dấu đỏ vào các khe giữa những tờ giấy photo.
Tôi cất kỹ giấy tờ, bước ra khỏi cửa ngân hàng.
Đứng trên bậc thềm nhìn những con số trên tờ sao kê một lúc.
Trên đường bắt taxi về nhà, điện thoại reo.
Số lạ.
Tôi nghe máy, giọng Tô Tình vang lên:
“Cô khiến Trần Phong không thể tiếp tục làm việc trong ngành này nữa, cô hài lòng rồi chứ?”
Tôi nói:
“Đó là do anh ta tự chuốc lấy.”
Cô ta cười lạnh:
“Cô tưởng ly hôn là cô có thể lấy được bao nhiêu sao? Anh ta đã tẩu tán tài sản từ lâu rồi.”
Tôi nói:
“Cô gọi cuộc điện thoại này để làm gì? Thăm dò tôi hay dọa nạt tôi?”
Cô ta im lặng hai giây rồi nói:
“Tôi chỉ muốn nói cho cô biết, đừng tưởng mình đã thắng.”
Nói xong cô ta cúp máy.
Tôi hạ điện thoại xuống, bỏ vào túi.
Về đến nhà, tôi thay dép lê.
Bước vào phòng ngủ, thấy chiếc cặp tài liệu của Trần Phong vẫn vứt ở đầu giường.
Hai đêm nay anh ta không về nhà, đồ đạc vẫn còn ở đây.
Tôi đứng trước giường nhìn chằm chằm hơn mười giây, rồi bước tới, kéo khóa ngăn ngoài của cặp.
Bên trong có vài tài liệu, lật vài trang, tôi tìm thấy một bản báo cáo tài chính của công ty năm ngoái.
Trước khi kết hôn tôi từng làm kế toán hai năm, chỉ cần lướt vài cái là nhận ra điểm bất thường--
Vài khoản thanh toán lớn không có nội dung, không có số hợp đồng, không đúng quy chuẩn tài chính.
Tôi âm thầm dùng điện thoại chụp lại từng trang, ngay cả những ký hiệu góc trang cũng chụp rõ nét.
Sau đó đặt lại vị trí cũ, kéo khóa lại, lùi ra sau hai bước.
Buổi tối, tôi gửi những tấm ảnh đó cho luật sư Chu.
Cô ấy hồi đáp rất nhanh:
“Những thứ này có thể dùng làm bằng chứng tẩu tán tài sản trong thời kỳ hôn nhân. Rất quan trọng, hãy cất giữ bản gốc cẩn thận.”
Tôi mở máy tính, bắt đầu viết ghi chép theo dòng thời gian.
Tạo một tệp tin mới, tiêu đề: “Ghi chép sự kiện”.
Chia đoạn viết xuống:
- Ngày 2 tháng 4, 17:00: Đóa Đóa nói thấy bố và dì Tô đá/nh nhau trên giường.
- 17:05: Tôi gửi WeChat hẹn Tô Tình gặp ở quán cà phê.
- 19:00: Đối chất trực tiếp tại quán cà phê. Tô Tình bỏ chạy.
- 21:00: Trần Phong và mẹ chồng đến nhà tranh cãi. Mẹ chồng đe dọa.
Viết đến đây, từ hướng phòng khách truyền đến tiếng động.
Rất khẽ, giống như tiếng giấy cọ xát vào cánh cửa.
Tôi dừng tay, tắt màn hình, đứng dậy.
Nhón chân bước nhẹ nhàng ra cửa.
Nhìn qua mắt mèo ra ngoài, đèn hành lang vẫn sáng, không thấy bóng người, nhưng dưới đất có thêm một phong bì giấy da bò.
Tôi do dự hai giây, vặn khóa cửa, hé một khe cửa.
Hành lang đúng là không có ai.
Tôi cúi người nhặt phong bì lên, nhanh chóng rút tay vào, đóng cửa và khóa chốt.
Phong bì không có đề tên người gửi, hơi phồng lên.
Tôi x/é miệng phong bì, rút thứ bên trong ra.
Hai tấm ảnh.
Một tấm là tôi và Đóa Đóa ở cửa quán cà phê, một tấm là Đóa Đóa đang chơi một mình trong vườn hoa của khu chung cư.
Trên cả hai tấm ảnh đều bị người ta dùng bút đỏ đá/nh dấu chữ X,
đúng vị trí khuôn mặt tôi và Đóa Đóa.
Ảnh trượt khỏi tay, rơi xuống đất.
Tôi lập tức cầm điện thoại gọi 110.
Trong lúc chờ đợi, tôi nhìn chằm chằm vào những tấm ảnh dưới sàn.
Tổng đài viên bắt máy:
“Xin chào, 110.”
“Tôi muốn báo án, có người đe dọa tôi. Tôi nhận được những tấm ảnh đe dọa.”
Giọng tôi rất bình tĩnh.
Tổng đài viên x/ác nhận địa chỉ, nói cảnh sát sẽ đến ngay.
Tôi kết thúc cuộc gọi, lại tìm ki/ếm Weibo của Tô Tình.
Trang cá nhân chỉ có vài nội dung đời thường, không thấy gì bất thường.
Nhưng tôi vẫn chụp màn hình lưu lại.
Tôi cầm điện thoại trong tay, ngồi xuống chiếc ghế cạnh cửa.
Hành lang yên tĩnh, tiếng còi cảnh sát vẫn chưa vang lên.
Tôi cúi đầu nhìn những tấm ảnh dưới đất, dấu X đỏ dưới ánh đèn trông đặc biệt rõ ràng.
Tôi cúi người nhặt ảnh lên, lật ra mặt sau, không có chữ.
Sau đó bỏ lại vào phong bì, đặt trên bàn trà.
Cảnh sát đến sau mười lăm phút.
Hai người cảnh sát, một nam một nữ.
Cảnh sát nam xem ảnh và phong bì, nói hành lang nhà cô không có camera, manh mối quá ít, khuyên cô nên tự lắp một cái, nếu có tình huống gì thì báo cảnh sát tiếp.
Nữ cảnh sát ghi chép thông tin, đưa tôi biên lai báo án, nói đã nhập vào hệ thống.
Tôi tiễn họ ra cửa, cảm ơn rồi đóng cửa lại.
Tôi đứng sau cửa nghe ngóng hành lang một lúc, cho đến khi x/ác nhận không có tiếng bước chân quay lại.
Cả đêm không ngủ.
Tôi cuộn mình trên ghế sofa, điện thoại cầm trong tay, cứ vài phút lại bật màn hình xem hình ảnh ngoài cửa.
Hành lang trống không, không có gì cả.
Hai giờ, ba giờ, bốn giờ sáng.
Bên ngoài vẫn luôn đen kịt.
Tôi tắt đèn, dựa vào tay vịn, nhắm mắt chợp mắt một lúc rồi lại gi/ật mình tỉnh giấc.
Khi trời sáng, có ánh sáng trắng xuyên qua khe rèm.
Tôi tìm dịch vụ lắp camera địa phương, gọi ba cuộc điện thoại, so sánh giá cả và thời gian lắp đặt.
Nơi sớm nhất nói tám giờ rưỡi có thể đến.
Tôi hẹn tám giờ rưỡi.
Tám giờ hai mươi lăm phút, chuông cửa vang lên.
Người thợ dáng người không cao, xách hộp dụng cụ và hai hộp camera bước vào nhà.
Tôi chỉ vào hai vị trí là cửa ra vào và ban công.