"Ta thấy các ngươi mới là kẻ tâm địa khó lường, hai mươi vạn tinh nhuệ thủy sư của triều đình đều ở Hàng Châu, kẻ địch còn chưa tới mà một hai tên đã vội vàng chạy trốn, sách thánh hiền các ngươi đọc đều để vào bụng chó cả rồi!"
Ta quay đầu nhìn hắn đầy kinh ngạc.
Hắn trợn mắt trừng, m/ắng cả ta vào đó: "Nhìn cái gì mà nhìn? Cái khí thế ngươi dùng hốt bản đ/ập ta đâu rồi?"
...
Trò hề này cuối cùng cũng không đi đến hồi kết, ta quay lại nhìn Bùi Ký Hưng, thực ra mọi chuyện chỉ trông chờ vào quyết định của vị bệ hạ này mà thôi.
Năm đó Yên Châu chưa phá, triều Lẫm liên tiếp đá/nh hạ thành trì phương Bắc, yêu cầu Đại Dục cống nạp và gửi một hoàng tử làm con tin.
Hoàng đế do dự không quyết, Bùi Ký Hưng khi đó mới mười bảy tuổi đã chủ động xin đi.
Ngài bảo Đại Dục đừng bận tâm đến sống ch*t của một mình ngài, cứ việc tấn công triều Lẫm, lấy lại những thành trì đã mất.
Không biết Hưng Uy đế hiện tại, liệu còn giữ được khí phách của thuở ấy?
Đêm đó ngài giữ ta lại một mình, hỏi: "Nghiên Quân, khi nàng xông trận gi*t địch, có thấy sợ không?"
Ta đáp: "Lúc mới bắt đầu gi*t người thì có sợ, nhưng cha ta nói, kẻ sợ ch*t là kẻ ch*t nhanh nhất, người trên chiến trường không được phép có ý sợ hãi."
"Con người một khi sợ hãi, tay cầm đ/ao sẽ mềm nhũn, chân cũng không tự chủ được mà lùi lại."
"Cuối cùng hoặc là bị người ta ch/ém ch*t, hoặc là trở thành kẻ đào ngũ."
"Mà kẻ đào ngũ sau chiến tranh sẽ bị xử theo quân pháp."
Ta nói một câu vô cùng táo bạo: "Ở vị trí nào thì mưu cầu công việc đó, hoặc là ngay từ đầu đừng tham quân, đã lên chiến trường thì tuyệt đối không được lâm trận bỏ chạy."
Bùi Ký Hưng bỗng cười lớn: "Nghiên Quân, nàng thật là phóng túng."
Ta cúi đầu: "Bệ hạ thứ tội."
Ngài đột nhiên vươn tay kẹp lấy cằm ta, ép ta ngẩng đầu đối diện.
Vị đế vương trẻ tuổi nhìn ta đầy vẻ trêu chọc, trong mắt ta không hề có lấy một chút hối lỗi hay sợ hãi.
"Thứ tội? Trẫm thấy nàng chẳng hề cảm thấy mình sai chỗ nào cả."
Ngài lại không đầu không đuôi khen một câu: "Đôi mắt của nàng rất đẹp."
Ngày hôm sau Bùi Ký Hưng từ chối đề nghị dời đô về phía nam, đồng thời triệu Cố Tuân và Dương Tải Xuyên quay về chi viện Hàng Châu.
Trì hoãn đến tận bây giờ, mùa nước lũ sông Trường Giang đã qua, quân đội phương Bắc viện trợ tới, triều Lẫm có tới bốn mươi vạn đại quân, gần đây lại thu phục không ít quân phản lo/ạn Đại Dục, thế như chẻ tre, tiến thẳng về phía tây tới phủ Hàng Châu, có những thành trì còn chẳng cần đá/nh đã đầu hàng.
Nhìn thấy đại quân sắp tới thành Hàng Châu, Cố Tuân và Dương Tải Xuyên chi viện tới, chặn đứng quân Lẫm tại Hằng An.
Địa thế Hằng An rất quan trọng, cực kỳ có lợi cho tác chiến thủy quân của chúng ta, tuyệt đối không được mất, ta đề nghị để Thường Ôn Ngôn dẫn mười lăm vạn thủy sư đi chi viện trước.
Đáng tiếc bị bác bỏ, lý do là thành Hàng Châu không thể thiếu người hộ giá.
Cuối cùng lại cử một tên văn quan dẫn năm vạn binh mã và lương thảo đi chi viện.
Hắn là người do Đổng Hoạch tiến cử, bọn họ bất mãn vì chúng ta cản trở hoàng đế dời đô về nam.
Trên đường đi cứ lề mề, hết nghỉ ngơi lại đường vòng.
Cứ như vậy, địch mạnh ta yếu, Cố Tuân và Dương Tải Xuyên vốn đã thiếu lương thảo, tướng sĩ bụng đói cồn cào, mệt mỏi rã rời.
Hằng An bị phá, quân Lẫm tiến thẳng vào, binh lâm thành hạ.
Phe thủ cựu lại xúi giục Bùi Ký Hưng dời đô về phía nam.
Ta quỳ trước cửa cung ngài, đêm xuống mưa tầm tã, làm ướt sũng bộ quan phục màu đỏ.
Trong cơn mê man, mưa dường như đã tạnh, ngẩng đầu nhìn thấy một chiếc ô giấy dầu màu xanh, lại nhìn thấy gương mặt không biểu cảm của Thường Ôn Ngôn.
Ta không kìm được mà đảo mắt.
"Này! Ta đây là có lòng tốt che ô cho ngươi đấy!"
"Được rồi, cảm ơn ngươi." Cái đảo mắt đó chỉ là thói quen khi nhìn thấy cái mặt đưa đám của Thường Ôn Ngôn, "Nhưng thánh thượng đâu có bảo ngươi che ô cho ta."
Đổng Hoạch từ trong điện đi ra, thái giám tổng quản Kim Chấp đích thân che ô cho ông ta.
Ông ta đứng trước mặt ta, hừ lạnh: "Đường đại nhân, đừng tốn công vô ích nữa, áo quần ướt hết cả rồi, ra thể thống gì nữa."
Thường Ôn Ngôn nghiêng người chắn trước mặt ta: "Đổng tướng, nếu không phải các người âm thầm giở trò, Hằng An sao có thể mất?"
"Hừ, dù sao hoàng thượng cũng đã đồng ý dời đô rồi, các người thật là ngoan cố không chịu thay đổi, đất đai phương Nam rộng lớn, chỉ cần thánh thượng còn đó, Đại Dục sẽ không vo/ng."
Những lời này đã cãi nhau không biết bao nhiêu vòng ở trên triều rồi, ta không còn ý định đôi co với ông ta nữa.
Vạt áo đã thấm đẫm nước, ta đột ngột đứng dậy, vung mạnh một cái.
Nước mưa lẫn bùn đất văng tung tóe lên mặt và người Đổng Hoạch, Kim Chấp cũng không tránh khỏi.
"Đổng đại nhân, rửa cái mặt già đi nhé!"
"Ngươi! Ngươi! Ngươi... thật là không ra thể thống gì!" Đổng Hoạch tức đến mức râu ria rung bần bật, giơ tay chỉ vào ta.
Đáng tiếc vị tể tướng đài các này không thể làm ra cái trò hất một nắm nước tạt lại, đành phất tay áo bỏ đi.
"Ngươi tạt ông ta thì cứ tạt, hại ta làm gì cơ chứ." Thường Ôn Ngôn ở bên cạnh lầm bầm.
Hắn mặc áo bào đỏ, cũng bị vạ lây, dính đầy bùn đất.
Ta vừa định đùa vài câu cho qua chuyện, chân đột nhiên nhói lên, thân thể không tự chủ được mà đổ nhào.
Thường Ôn Ngôn vội vàng đỡ lấy ta, ô cũng vứt bỏ, nước mưa làm ướt sũng tóc mai hắn.
Hiếm khi thấy được vẻ luống cuống như vậy trên gương mặt hắn.
Cửa điện của Bùi Ký Hưng cuối cùng cũng mở, ngài sải bước đi tới, Kim Chấp che ô đuổi theo sau.
Ngài cúi người bế xốc ta lên.
Thường Ôn Ngôn tên khốn này cũng là kẻ cứng cỏi, còn dám cản một cái, nhưng không cản nổi.
Kim Chấp ở phía sau giậm chân sốt ruột, nước trên người ta thấm vào long bào màu vàng.
Ta tranh thủ nắm lấy tay áo Bùi Ký Hưng: "Bệ hạ, ngài còn nhớ năm ngài mười bảy tuổi không?"
"Bây giờ, tuyệt đối không được dời đô về phía nam!"