Khắp kinh thành này, e là các vị quý nữ đều đã mòn mỏi ngóng chờ rồi.”
Tạ Hành nâng chén cười khẽ, ánh mắt như có như không lướt qua ta, nhẹ bẫng thốt ra tám chữ: “Duyên phận chưa tới, cưỡng cầu không được.”
Chúng nhân thi nhau phụ họa, rồi lại quay sang chúc tụng ta vừa có được giai nhân.
Ta cố đ/è nén ngọn lửa gi/ận trong lòng, ngửa cổ uống cạn chén rư/ợu giải sầu, lạnh giọng dặn dò:
“Chư vị quá khen. Chỉ là Bùi mỗ xin nói trước lời khó nghe, sau này nếu có gặp tân phụ Tô thị nhà ta, mong chư vị chớ nhắc đến tên cũ của Thẩm thị.
Loại đàn bà không biết đại thể, lòng dạ lạnh lẽo ấy, nhắc đến chỉ tổ rước lấy thị phi, vấy bẩn tai nghe của mọi người!”
Xung quanh lặng đi một chốc, mọi người nhìn nhau, đều thức thời mà chuyển chủ đề khác.
Khi yến tiệc tan, đèn hoa đã bắt đầu lên.
Ta mang theo vài phần say, dọc theo hành lang của Hầu phủ đi ra ngoài.
Khi đi qua chỗ rẽ của hòn non bộ, ta chợt khựng bước chân.
Trong bóng tối sau hòn non bộ, có hai người đang đứng.
Một người là tùy tùng thân cận bên cạnh Tạ Hành, ta nhận ra hắn.
Còn người kia, khoác một chiếc áo choàng màu trắng nguyệt giản dị, nửa thân mình ẩn trong bóng tối, không nhìn rõ mặt mũi, nhưng dáng vẻ ấy, lại khiến ta trong nháy mắt như rơi vào hầm băng.
“Thẩm nương tử dừng bước.”
Giọng của tên tùy tùng hạ rất thấp, nhưng vẫn lọt rõ mồn một vào tai ta:
“Chủ tử đã dặn, khế ước của cửa tiệm phía nam thành đã làm xong, ngày mai có thể giao nhận. Chủ tử còn nói, trời lạnh rồi, mong nương tử thêm chút áo, chớ để thân mình hao tổn như trước nữa.”
Người phụ nữ khoác áo choàng khẽ hành lễ, giọng nói thanh lãnh như tiếng băng vỡ chạm ngọc, không phải Thẩm Kinh Xuân thì là ai?!
“Thay ta đa tạ tiểu hầu gia. Đại ân không lời nào cảm tạ hết, Kinh Xuân xin ghi lòng tạc dạ.”
Ta cứng đờ người tại chỗ, m/áu trong cơ thể như thể đang chảy ngược trong khoảnh khắc.
Thẩm Kinh Xuân! Tạ Hành!
Họ dám... họ dám tư thông với nhau ngay dưới mí mắt ta!
Ta cứ ngỡ chiếc túi thơm kia sao lại lọt vào tay Tạ Hành, hóa ra mọi lời ký gửi chỉ là giả dối, họ rõ ràng là đã sớm âm thầm qua lại với nhau!
Bảy năm.
Ta và Thẩm Kinh Xuân làm vợ chồng trọn vẹn bảy năm.
Bảy năm qua, nàng đối với ta luôn giữ vẻ tương kính như tân, khuôn phép khô khan ấy.
Ta còn nhớ thuở mới cưới, ta cũng từng muốn cùng nàng nâng khăn sửa túi.
Ta từng mang hạt dẻ rang đường ở góc phố về cho nàng sau mỗi buổi bãi triều, từng quấn lấy nàng đòi nàng mài mực cho mình vào ngày nghỉ.
Nhưng nàng thì sao?
Nàng luôn giữ cái vẻ của tiểu thư khuê các, chê hạt dẻ khó tiêu, không ăn.
Khi mài mực cũng cứng nhắc từng chút một, tuyệt đối không giống như hồ yêu trong thoại bản, thuận thế ngã vào lòng ta nũng nịu.
Nàng quản lý việc nhà họ Bùi đâu ra đấy, trên hiếu kính mẹ chồng, dưới nghiêm khắc với tôi tớ, ngay cả một đồng sai sót trong sổ sách cũng đừng hòng qua mắt được nàng.
Nhưng ta không muốn một quản gia hoàn hảo, ta muốn một người đàn bà bằng xươ/ng bằng th!t, biết khóc biết cười, trong mắt chỉ có mình ta!
Cho đến mùa xuân năm ngoái, ta gặp Tô Uyển Âm dưới gốc lê ở chùa Đại Tướng Quốc ngoại thành.
Nàng mặc bộ quần áo vải thô giặt đến bạc màu, khóe mắt vương lệ, đang đ/ốt giấy cho người chồng quá cố.
Một cơn gió thổi qua, hoa lê rụng đầy đầu nàng.
Nàng ngẩng đầu lên, khoảnh khắc đôi mắt ướt át như nai con ấy chạm vào lòng ta, ta đã nghe thấy tiếng băng tan.
Nàng kiều yếu, nàng vô trợ, nàng sẽ vì một câu quan tâm của ta mà đỏ ửng đôi má, sẽ vì một chiếc trâm cài ta tặng mà vui mừng khôn xiết lao vào lòng ta.
Ở bên Tô Uyển Âm, ta mới thực sự cảm nhận được tôn nghiêm và niềm vui của một người đàn ông.
Ta âm thầm an trí nàng ở biệt viện ngoại thành, vài ba ngày lại lấy cớ đi gặp gỡ.
Khoảng thời gian đó là những ngày tháng khoái lạc nhất trong bảy năm của ta.
Ta thậm chí đã nghĩ, đợi thời cơ chín muồi sẽ nạp nàng vào phủ.
Thế nhưng, giấy cuối cùng cũng không gói được lửa.
Ngày mùng ba tháng ba năm nay, tiết Thượng Tị.
Ta vốn tưởng Thẩm Kinh Xuân đã đưa đứa con trai ba tuổi về trang trại ngoại thành tránh rét, nên bạo gan đưa Tô Uyển Âm đến đạo quán trong núi xin quẻ.
Ai ngờ được, ngay tại hậu viện đạo quán đó, ta đang nắm tay Tô Uyển Âm thì đụng mặt ngay Thẩm Kinh Xuân đang nghỉ chân.
Lúc đó ta nghĩ xong đời rồi, hậu viện sắp ch/áy đến nơi rồi.
Cái tính cổ hủ của Thẩm Kinh Xuân chắc chắn sẽ làm ầm ĩ lên, biết đâu còn mách lẻo đến chỗ mẹ ta.
Thế nhưng nàng không làm thế.
Nàng chỉ lặng lẽ đứng đó, nắm tay con trai, ánh mắt từ mặt ta, chậm rãi chuyển sang gương mặt đáng thương tội nghiệp của Tô Uyển Âm.
Trong ánh mắt nàng không có gi/ận dữ, không có bi thương, chỉ có một sự bình thản khiến ta rợn cả người.
“Về phủ thôi.”
Nàng chỉ thốt ra ba chữ đó, rồi xoay người dắt con lên xe ngựa.
Ta mang tâm trạng bất an trở về phủ Bùi, chuẩn bị đón một cơn bão táp.
Thế nhưng, trong thư phòng, Thẩm Kinh Xuân đang ngồi ngay ngắn trên ghế thái sư, trên bàn gỗ hoàng hoa lê trước mặt, xếp ngay ngắn một xấp khế ước và những tờ chứng từ đã đóng dấu vân tay đỏ chót.